Luận văn: Vấn đề và giải pháp trong phương pháp dạy học Thơ Đường

Luận văn phân tích các vấn đề trong phương pháp dạy học thơ Đường tại trường phổ thông, đề xuất giải pháp giúp nâng cao chất lượng giảng dạy hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
54
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng của dạy học Thơ Đường trong trường phổ thông

Thơ Đường là một thành tựu nổi bật của văn học Trung Quốc, được sáng tạo trong thời kỳ hoàng kim của đời Đường (618-907). Với nội dung phong phú và thủ pháp nghệ thuật tinh tế, thơ Đường không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam mà còn là di sản văn hóa toàn nhân loại. Trong chương trình phổ thông, dạy học thơ Đường chiếm vị trí đặc biệt: THCS dạy 10 bài ở lớp 9, THPT dạy 6 bài ở lớp 10. Khối lượng lớn này đòi hỏi giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy học thơ Đường hiệu quả để giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của nó, nâng cao chất lượng dạy học văn nước ngoài tại nhà trường.

1.1. Giá trị lịch sử và văn hóa của Thơ Đường

Đời Đường là thời kỳ toàn thịnh của xã hội phong kiến Trung Quốc, với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và văn hóa nghệ thuật phồn vinh. Thơ Đường phát triển vượt bậc, tạo ra nhiều tác giả tiêu biểu như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Sự du nhập sớm của thơ Đường sang Việt Nam đã giúp nó trở thành loại thơ nội sinh, gần gũi với người Việt Nam qua nhiều thế kỷ.

1.2. Thách thức trong dạy học Thơ Đường hiện nay

Hiện tại, dạy thơ Đường ở trường phổ thông chưa đạt hiệu quả cao. Nhiều giáo viên chỉ phân tích nội dung mà chưa làm nổi bật thủ pháp nghệ thuậtđặc trưng thi pháp. Việc cung cấp kiến thức lý thuyết về Thơ Đường còn thiếu trong sách giáo khoa, khiến học sinh cảm thấy tiếp nhận khó khăn. Đây là vấn đề cần được giải quyết.

II. Những khó khăn chính trong dạy học Thơ Đường

Việc dạy thơ Đường hiệu quả gặp phải nhiều trở ngại. Thứ nhất, kiến thức lý thuyết nền tảng cho học sinh tiếp nhận thơ Đường còn rất hạn chế vì sách giáo khoa chỉ có một bài giới thiệu chung. Thứ hai, phương pháp dạy học của nhiều giáo viên chủ yếu là thuyết giảng, ít đàm thoại với học sinh, trái ngược với đặc điểm "nói ít gợi nhiều" của thơ Đường. Thứ ba, giáo viên chưa đủ kỹ năng để giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp thi pháp trong những tác phẩm tiêu biểu. Những khó khăn này dẫn đến việc học sinh khó tiếp nhận và yêu thích thơ Đường, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học văn nước ngoài nói chung.

2.1. Thiếu kiến thức nền tảng về đời Đường và Thơ Đường

Tri thức làm nền tảng để học sinh tiếp nhận thơ Đường còn rất nghèo nàn. Sách giáo khoa ở cả THCS và THPT chỉ có một bài giới thiệu chung về đời Đườngthơ Đường, không cung cấp đủ kiến thức lý thuyết về thi pháp, phong cách, các thể loại thơ. Điều này khiến học sinh gặp khó khăn khi tiếp nhận thơ Đường, cảm thấy nó khó hiểu và xa lạ.

2.2. Phương pháp dạy học chưa phù hợp

Nhiều giáo viên sử dụng chủ yếu phương pháp thuyết giảng, ít có đàm thoại tương tác với học sinh vì lo sợ thiếu thời gian. Cách làm này trái ngược với đặc điểm của thơ Đường là "nói ít gợi nhiều", không tạo cơ hội cho học sinh cảm nhận, suy tư sâu sắc về các tác phẩm.

III. Phương pháp dạy học Thơ Đường hiệu quả

Để dạy học thơ Đường hiệu quả ở trường phổ thông, cần áp dụng một số phương pháp giảng dạy khoa học và linh hoạt. Thứ nhất, giáo viên cần cung cấp kiến thức lý thuyết nền tảng về bối cảnh lịch sử, xã hội của đời Đường, đặc điểm của các thể loại thơ, các thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu. Thứ hai, sử dụng phương pháp đàm thoại, gợi mở để học sinh chủ động khám phá vẻ đẹp của tác phẩm. Thứ ba, phân tích sâu đặc trưng thi pháp, thủ pháp nghệ thuật trong mỗi bài thơ cụ thể. Thứ tư, tạo bầu không khí lớp học thân thiện, khuyến khích hưởng ứng, sáng tạo của học sinh. Thứ năm, kết hợp học tập với thực hành, sáng tác để học sinh cảm nhận trực tiếp tính chất của thơ Đường.

3.1. Cung cấp kiến thức lý thuyết nền tảng

Giáo viên cần cung cấp hệ thống kiến thức về bối cảnh đời Đường, các thể loại thơ chính như thơ tuyên ngôn, cảm tán, gửi gắm. Giới thiệu thủ pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, các kỹ thuật hành văn đặc trưng. Điều này giúp học sinh có nền tảng vững chắc để tiếp nhận thơ Đường một cách dễ dàng hơn.

3.2. Sử dụng phương pháp gợi mở đàm thoại

Thay vì chỉ thuyết giảng một chiều, giáo viên nên đặt câu hỏi gợi mở để học sinh chủ động suy tư, khám phá nội dung và vẻ đẹp của bài thơ. Tạo không gian đàm thoại tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa các học sinh với nhau, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ thơ Đường.

3.3. Phân tích chi tiết thủ pháp nghệ thuật

Dành thời gian phân tích sâu sắc các thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật hành văn trong mỗi bài thơ cụ thể. Chỉ ra cách tác giả sử dụng ngôn từ, hình ảnh, âm thanh để tạo nên vẻ đẹp toàn bộ, giúp học sinh cảm nhận được tính tinh tế, sâu sắc của thơ Đường.

IV. Những kỳ vọng và hướng phát triển

Việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học thơ Đường hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích cho giáo dục phổ thông. Thứ nhất, giúp học sinh cảm nhận, yêu thích thơ Đường thay vì cảm thấy nó khó khăn và xa lạ. Thứ hai, nâng cao chất lượng dạy học văn nước ngoài trong nhà trường, từ đó góp phần cải tiến toàn diện chất lượng giáo dục. Thứ ba, giúp giáo viên có cách nhìn, cách hiểu khoa học về thơ Đường, tự tin hơn trong giảng dạy. Thứ tư, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa quý báu của nhân loại. Để đạt được những mục tiêu này, cần sự nỗ lực liên tục của giáo viên, sự hỗ trợ từ nhà trườngsự cải tiến chương trình giáo dục để kiến thức lý thuyết nền tảng được cung cấp đầy đủ hơn.

4.1. Nâng cao chất lượng dạy học và cảm nhận của học sinh

Phương pháp dạy học thơ Đường hiệu quả sẽ giúp học sinh từ bỏ cảm giác khó khănphát triển khả năng cảm thụ. Học sinh sẽ yêu thíchsáng tạo hơn khi học thơ Đường, đồng thời nâng cao kỹ năng phân tích văn họctư duy phê bình.

4.2. Cải tiến chương trình giáo dục

Cần bổ sung, cải tiến nội dung sách giáo khoa với nhiều bài giới thiệu chi tiết về đời Đường, các thể loại thơ, thủ pháp nghệ thuật đặc trưng. Xây dựng hướng dẫn dạy học cụ thể cho thơ Đường, cung cấp tài liệu tham khảo chất lượng cao cho giáo viên, để dạy học trở nên hiệu quả, khoa họcbền vững.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề về thi pháp thơ Đường và vị trí của thơ Đường trong chương trình văn học phổ thông. Chương 2: Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông. Chương 3: Về phương pháp tiếp cận, phân tích thơ Đường ở trường phổ thông 5 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI PHÁP THƠ ĐƢỜNG VÀ VỊ TRÍ CỦA THƠ ĐƢỜNG TRONG CHƢƠNG TRÌNH VĂN HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số vấn đề thi pháp thơ Đƣờng Trong gần 300 năm tồn tại của triều đại Đường, người Trung Quốc đã tạo nên một nền thơ ca vĩ đại.

Bộ Toàn Đường thi (biên soạn đời Thanh) thu thập được 489000 bài thơ của hơn 2300 nhà thơ. Con số khổng lồ này chưa hẳn đã là toàn bộ thơ thực có ở đời Đường, vì việc sưu tập được tiến hành sau 1000 năm. Nhưng đó mới chỉ nói về số lượng, cái quan trọng hơn là chất lượng nội dung và nghệ thuật của thơ Đường. Thơ Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan điểm, nhận thức, tâm tư của con người một cách sâu sắc với một hình thức hoàn mỹ.

Một số vấn đề thi pháp thơ Đường chúng tôi tổng hợp ở đây thuộc về thi pháp thơ của của một thời đại, một giai đoạn trong tiến trình thơ Trung Quốc. Thi pháp là hệ thống hình thức, hệ thống phương tiện nghệ thuật của thơ, hệ thống hình thức này bản thân nó là một mắt khâu trên tiến trình thi pháp thơ Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của thời đại, của quan điểm triết học. Trong hệ thống thi pháp này chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến các phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại và ngôn ngữ. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời Con người là đối tượng đồng thời cũng là mục đích, cứu cánh của văn học.

Khi Gorky nói rằng: "Văn học là khoa học về con người” tức là ông quan niệm văn học không phản ánh, thể hiện gì khác ngoài phản ánh thể hiện con người. Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học. Thơ Đường quan niệm về con người theo hai “kiểu” đó là “con người vũ trụ” và “ con người đời thường".Con ngƣời vũ trụ Ở thời cổ con người luôn đặt mình trong mối quan hệ tương thông, tương hợp với thiên nhiên, quan niệm “ thiên nhân hợp nhất “, “ thiên nhân tương dữ” (trời và người có quan hệ mật thiết với nhau), "nhân thân tiểu thiên địa “ (con người là một trời đất thế giới nhỏ). Thiên địa dư ngã định sinh Vạn vật di ngã vi nhất (Trang Tử) (Trời đất cùng sinh ra với ta Vạn vật với ta là một ) Quan niệm "con người vũ trụ“ chi phối những hoạt động ý thức tinh thần, khoa học nghệ thuật thời cổ.

Quan niệm “con người vũ trụ“ cho rằng con người là một “tiểu vũ trụ“ trong lòng “đại vũ trụ“. Quan niệm này tồn tại suốt thời kỳ phong kiến, kéo dài đến tận thời cận đại. Con người vũ trụ được nhìn bằng kích thước vũ trụ, nó liên quan đến trời đất với vũ trụ, đó chính là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Con người vũ trụ trong thơ Đường không phải là người trần mắt thịt mà là một con ngưòi phi 7 thường có một cái nhìn đặc biệt.

Thử đọc bài Đăng U Châu đài ca của Trần Tử Ngang: Tiền bất kiến cố nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ (Người trước chẳng thấy ai Người sau thì chưa thấy Ngẫm trời đất thật vô cùng Riêng lòng đau mà lệ chảy) Điểm nhìn nghệ thuật được đặt giữa trung tâm của vũ trụ, trung tâm của không gian thiên địa (vũ) trung tâm của thời gian tiền - hậu (trụ), con người đứng ở giao điểm của thời gian mà lên tiếng, đó là tiếng nói của một tiểu thiên địa giữa lòng đại thiên địa và giữa thời gian vô thủy vô chung. Cái nhìn tiểu thiên địa ấy chỉ biết “ Độc thương nhiên nhi thế hạ “ khi dối diện với cái vô hạn, vô cùng của vũ trụ. Mặt khác con người vũ trụ trong thơ Đường mang khí phách, hoài bão, lý tưởng lớn lao, cao cả, do đó con ngưòi có uy phong rung động đất trời, con người khí phách khi thất vọng cũng không chịu quẩn quanh, mà khát vọng vượt không gian để có mặt ở bốn phương. Con ngƣời đời thƣờng Nếu con người vũ trụ thể hiện quan hệ thống nhất tương giao hòa hợp với vũ trụ thì con người đòi thường được phản ảnh trong các mối quan hệ xã hội đầy mâu thuẫn, đối lập, tương phản và chủ yếu xuất hiện trong bộ phận sáng tác theo khuynh hướng hiện thực, theo nguyên tắc khách quan.

8 Con người đời thường trong thơ Đường là con người được xem xét trong những mối quan hệ xã hội của nó, “con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội“. Khi xã hội phồn vinh ổn định, đặc biệt là thời thịnh trị 100 năm đầu đời Đường, con người vũ trụ ngự trị trong tác phẩm của các thi nhân; tâm hồn họ khát khao hòa nhập với thiên nhiên. Khi xã hội có những biến động lớn lao, các giá trị bị đảo lộn, cái tưởng như vĩnh hằng bị xóa bỏ trong chốc lát, những cuộc biến động kêu gọi nhà thơ chú ý vào sự thực xã hội. Nổi bật là nhà thơ Đỗ Phủ - một nhịp cầu vĩ đại nối hai giai đoạn thi ca đòi Đường.

“Thi thánh” Đỗ Phủ có bước đi trước mọi người, lịch sử đã chuẩn bị cho ông môt cuộc đời cơ cực, thể hiện rõ trong bài Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài hát nhà tranh bị gió thu phá nát). Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh mùa thu năm thứ ba của niên hiệu Càn Nguyên (760). Đỗ Phủ nhờ bạn bè giúp đỡ dựng được một mái nhà nhưng đến tháng 8 bị gió lớn phá hỏng. Nhà thơ cảm xúc viết nên bài thơ này.

Như vậy ta thấy con người đời thường chịu nhiều vất vả. Không phải ngẫu nhiên mà Tiêu Điều Phi nói: “Máu và .nước mắt của nhân dân đã tưới cho vườn thơ Đỗ Phủ“. Những tác phẩm đó đã chứng minh tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ đối với người dân nghèo. Phải nói rằng Đỗ Phủ là người đầu tiên đưa hình ảnh con người đời thường vào trong tác phẩm, là một sự cống hiến mới mẻ cho văn học Trung Quốc.

Tuy nhiên cần lưu ý rằng do chịu sự chi phối của quan niệm truyền thống nên thơ Đường tuy có hai “kiểu” con người cơ bản nhưng con người vũ trụ vẫn chiếm ưu thế, nó có mặt trong cả bốn giai đoạn lịch sử: sơ, thịnh, trung, vãn Đường. “Con người vũ trụ“ là nhân vật trung tâm của dòng thơ lãng mạn, “con người đời thường” là nhân vật trung tâm của dòng thơ hiện thực, sáng tác theo khuynh hướng khách quan. “Con người vũ trụ” hay “con người dân đen” đều là cống hiến của thơ Đường vào di sản văn học Trung Quốc và nhân loại. Không gian nghệ thuật Không gian cùng với thời gian làm nên hình thức tồn tại của thế giới vật chất; không gian và thời gian là hình thức tồn tại của con người, con người cũng như các hiện tượng vật chất không thể tồn tại ngoài không, thời gian.

Trong các tác phẩm nghệ thuật, con người xuất hiện với tư cách là hình tượng con người và không gian được tạo dựng cũng là hình tượng không gian. Giáo sư Trần Đình Sử phân biệt: “không gian nghệ thuật là hình tượng không gian trong tác phẩm”. Mỗi loại hình văn học có cái “mã” không gian riêng của nó, như trong thơ ca dân gian Việt Nam thì không gian là sân đình, giếng nước. Nhưng trong thơ bác học Trung Quốc thì là không gian rộng lớn, bao la giữa càn khôn.

Thơ Đường có cái "mã" riêng của nó, nếu nói rằng con người trong thơ Đường có hai kiểu vũ trụ và đời thường, thì tương ứng với hai kiểu con người đó cũng có hai kiểu không gian: không gian vũ trụ và không gian đời thường. Không gian vũ trụ Trong bài Tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường, tác giả Nhữ Thành lý giải rằng: "bầu trời và thiên nhiên là cái nền của thơ Đường vì thơ Đường cốt yếu là nêu lên tính thống nhất, mà tính thống nhất chủ yếu là thống nhất giữa con người và thiên nhiên cho nên tất yếu nó hướng về thiên nhiên“. Tác giả Bích Hải viết: “Sở dỉ thơ Đường thể hiện sự thống nhất giữa con người với thiên nhiên vì quan niệm nghệ thuật về con người của thơ Đường là con người vũ trụ“. Trong thơ Đường không gian vũ trụ bao bọc con người, đại vũ trụ bao bọc tiểu vũ trụ.

Trong văn học cổ ta thấy con người ở giữa vòng “thiên phú địa tái“ (trời đất che chở) và tư thế con người là “đầu đội trời chân đạp đất“. 10 Con người với vũ trụ có sự hỗ trợ tương thông, tương cảm với đất trời thiên nhiên, vạn vật, con người được bao bọc giữa sơn thủy hữu tình. Con người ở vị trí trung tâm nên không gian mang tính đối ứng, con người là “tâm đối xứng của không gian ấy“: Bạch nhật y sơn tận Hoàng Hà nhập hải lưu Dục cùng thiên lý mục Cánh thướng nhất tằng lâu. (Đăng Quán Tước lâu - Vương Chi Hoán) Ta thấy xuất hiện chiều cao chót vót của lầu Quán Tước mà đứng trên có thể thấy mọi phía.

Không phải ngẫu nhiên trong thơ Đường có nhiều bài thơ có "đăng” đến thế: Đăng cao, Đăng U Châu đài ca, Đăng Quán Tước lâu. Lên cao để chiếm lỉnh không gian bao la rộng lớn, càng lên cao lại càng thấy xa, xa gắn chặt với cao. Không gian được đặt trong sự tương xứng bắc - nam, đông - tây, trên cao - dưới thấp, trái - phải. Nó được đo bằng các đại lượng lớn.

Bên cạnh không gian cao, xa, trong thơ Đường, không gian tĩnh cũng là một đề tài rất quen thuộc và thu được những thành tựu đáng kể, tác giả miêu tả cái động cốt làm rõ cái tĩnh : Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (Phong Kiều dạ bạc - Trương Kế) Nguyệt, sương, đốm lửa chài là những từ ngữ diễn tả không gian yên tĩnh, những tiếng động “ ô đề “, “ chung thanh” chìm ngay vào cái yên tĩnh, vắng lặng đó của không gian; tiếng chuông vang lên có sức tác động mạnh mẽ đến tâm tư con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ