Chương 1: Một số vấn đề về thi pháp thơ Đường và vị trí của thơ Đường trong chương trình văn học phổ thông. Chương 2: Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông. Chương 3: Về phương pháp tiếp cận, phân tích thơ Đường ở trường phổ thông 5 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI PHÁP THƠ ĐƢỜNG VÀ VỊ TRÍ CỦA THƠ ĐƢỜNG TRONG CHƢƠNG TRÌNH VĂN HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số vấn đề thi pháp thơ Đƣờng Trong gần 300 năm tồn tại của triều đại Đường, người Trung Quốc đã tạo nên một nền thơ ca vĩ đại.
Bộ Toàn Đường thi (biên soạn đời Thanh) thu thập được 489000 bài thơ của hơn 2300 nhà thơ. Con số khổng lồ này chưa hẳn đã là toàn bộ thơ thực có ở đời Đường, vì việc sưu tập được tiến hành sau 1000 năm. Nhưng đó mới chỉ nói về số lượng, cái quan trọng hơn là chất lượng nội dung và nghệ thuật của thơ Đường. Thơ Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan điểm, nhận thức, tâm tư của con người một cách sâu sắc với một hình thức hoàn mỹ.
Một số vấn đề thi pháp thơ Đường chúng tôi tổng hợp ở đây thuộc về thi pháp thơ của của một thời đại, một giai đoạn trong tiến trình thơ Trung Quốc. Thi pháp là hệ thống hình thức, hệ thống phương tiện nghệ thuật của thơ, hệ thống hình thức này bản thân nó là một mắt khâu trên tiến trình thi pháp thơ Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của thời đại, của quan điểm triết học. Trong hệ thống thi pháp này chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến các phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại và ngôn ngữ. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời Con người là đối tượng đồng thời cũng là mục đích, cứu cánh của văn học.
Khi Gorky nói rằng: "Văn học là khoa học về con người” tức là ông quan niệm văn học không phản ánh, thể hiện gì khác ngoài phản ánh thể hiện con người. Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học. Thơ Đường quan niệm về con người theo hai “kiểu” đó là “con người vũ trụ” và “ con người đời thường".Con ngƣời vũ trụ Ở thời cổ con người luôn đặt mình trong mối quan hệ tương thông, tương hợp với thiên nhiên, quan niệm “ thiên nhân hợp nhất “, “ thiên nhân tương dữ” (trời và người có quan hệ mật thiết với nhau), "nhân thân tiểu thiên địa “ (con người là một trời đất thế giới nhỏ). Thiên địa dư ngã định sinh Vạn vật di ngã vi nhất (Trang Tử) (Trời đất cùng sinh ra với ta Vạn vật với ta là một ) Quan niệm "con người vũ trụ“ chi phối những hoạt động ý thức tinh thần, khoa học nghệ thuật thời cổ.
Quan niệm “con người vũ trụ“ cho rằng con người là một “tiểu vũ trụ“ trong lòng “đại vũ trụ“. Quan niệm này tồn tại suốt thời kỳ phong kiến, kéo dài đến tận thời cận đại. Con người vũ trụ được nhìn bằng kích thước vũ trụ, nó liên quan đến trời đất với vũ trụ, đó chính là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Con người vũ trụ trong thơ Đường không phải là người trần mắt thịt mà là một con ngưòi phi 7 thường có một cái nhìn đặc biệt.
Thử đọc bài Đăng U Châu đài ca của Trần Tử Ngang: Tiền bất kiến cố nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ (Người trước chẳng thấy ai Người sau thì chưa thấy Ngẫm trời đất thật vô cùng Riêng lòng đau mà lệ chảy) Điểm nhìn nghệ thuật được đặt giữa trung tâm của vũ trụ, trung tâm của không gian thiên địa (vũ) trung tâm của thời gian tiền - hậu (trụ), con người đứng ở giao điểm của thời gian mà lên tiếng, đó là tiếng nói của một tiểu thiên địa giữa lòng đại thiên địa và giữa thời gian vô thủy vô chung. Cái nhìn tiểu thiên địa ấy chỉ biết “ Độc thương nhiên nhi thế hạ “ khi dối diện với cái vô hạn, vô cùng của vũ trụ. Mặt khác con người vũ trụ trong thơ Đường mang khí phách, hoài bão, lý tưởng lớn lao, cao cả, do đó con ngưòi có uy phong rung động đất trời, con người khí phách khi thất vọng cũng không chịu quẩn quanh, mà khát vọng vượt không gian để có mặt ở bốn phương. Con ngƣời đời thƣờng Nếu con người vũ trụ thể hiện quan hệ thống nhất tương giao hòa hợp với vũ trụ thì con người đòi thường được phản ảnh trong các mối quan hệ xã hội đầy mâu thuẫn, đối lập, tương phản và chủ yếu xuất hiện trong bộ phận sáng tác theo khuynh hướng hiện thực, theo nguyên tắc khách quan.
8 Con người đời thường trong thơ Đường là con người được xem xét trong những mối quan hệ xã hội của nó, “con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội“. Khi xã hội phồn vinh ổn định, đặc biệt là thời thịnh trị 100 năm đầu đời Đường, con người vũ trụ ngự trị trong tác phẩm của các thi nhân; tâm hồn họ khát khao hòa nhập với thiên nhiên. Khi xã hội có những biến động lớn lao, các giá trị bị đảo lộn, cái tưởng như vĩnh hằng bị xóa bỏ trong chốc lát, những cuộc biến động kêu gọi nhà thơ chú ý vào sự thực xã hội. Nổi bật là nhà thơ Đỗ Phủ - một nhịp cầu vĩ đại nối hai giai đoạn thi ca đòi Đường.
“Thi thánh” Đỗ Phủ có bước đi trước mọi người, lịch sử đã chuẩn bị cho ông môt cuộc đời cơ cực, thể hiện rõ trong bài Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài hát nhà tranh bị gió thu phá nát). Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh mùa thu năm thứ ba của niên hiệu Càn Nguyên (760). Đỗ Phủ nhờ bạn bè giúp đỡ dựng được một mái nhà nhưng đến tháng 8 bị gió lớn phá hỏng. Nhà thơ cảm xúc viết nên bài thơ này.
Như vậy ta thấy con người đời thường chịu nhiều vất vả. Không phải ngẫu nhiên mà Tiêu Điều Phi nói: “Máu và .nước mắt của nhân dân đã tưới cho vườn thơ Đỗ Phủ“. Những tác phẩm đó đã chứng minh tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ đối với người dân nghèo. Phải nói rằng Đỗ Phủ là người đầu tiên đưa hình ảnh con người đời thường vào trong tác phẩm, là một sự cống hiến mới mẻ cho văn học Trung Quốc.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng do chịu sự chi phối của quan niệm truyền thống nên thơ Đường tuy có hai “kiểu” con người cơ bản nhưng con người vũ trụ vẫn chiếm ưu thế, nó có mặt trong cả bốn giai đoạn lịch sử: sơ, thịnh, trung, vãn Đường. “Con người vũ trụ“ là nhân vật trung tâm của dòng thơ lãng mạn, “con người đời thường” là nhân vật trung tâm của dòng thơ hiện thực, sáng tác theo khuynh hướng khách quan. “Con người vũ trụ” hay “con người dân đen” đều là cống hiến của thơ Đường vào di sản văn học Trung Quốc và nhân loại. Không gian nghệ thuật Không gian cùng với thời gian làm nên hình thức tồn tại của thế giới vật chất; không gian và thời gian là hình thức tồn tại của con người, con người cũng như các hiện tượng vật chất không thể tồn tại ngoài không, thời gian.
Trong các tác phẩm nghệ thuật, con người xuất hiện với tư cách là hình tượng con người và không gian được tạo dựng cũng là hình tượng không gian. Giáo sư Trần Đình Sử phân biệt: “không gian nghệ thuật là hình tượng không gian trong tác phẩm”. Mỗi loại hình văn học có cái “mã” không gian riêng của nó, như trong thơ ca dân gian Việt Nam thì không gian là sân đình, giếng nước. Nhưng trong thơ bác học Trung Quốc thì là không gian rộng lớn, bao la giữa càn khôn.
Thơ Đường có cái "mã" riêng của nó, nếu nói rằng con người trong thơ Đường có hai kiểu vũ trụ và đời thường, thì tương ứng với hai kiểu con người đó cũng có hai kiểu không gian: không gian vũ trụ và không gian đời thường. Không gian vũ trụ Trong bài Tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường, tác giả Nhữ Thành lý giải rằng: "bầu trời và thiên nhiên là cái nền của thơ Đường vì thơ Đường cốt yếu là nêu lên tính thống nhất, mà tính thống nhất chủ yếu là thống nhất giữa con người và thiên nhiên cho nên tất yếu nó hướng về thiên nhiên“. Tác giả Bích Hải viết: “Sở dỉ thơ Đường thể hiện sự thống nhất giữa con người với thiên nhiên vì quan niệm nghệ thuật về con người của thơ Đường là con người vũ trụ“. Trong thơ Đường không gian vũ trụ bao bọc con người, đại vũ trụ bao bọc tiểu vũ trụ.
Trong văn học cổ ta thấy con người ở giữa vòng “thiên phú địa tái“ (trời đất che chở) và tư thế con người là “đầu đội trời chân đạp đất“. 10 Con người với vũ trụ có sự hỗ trợ tương thông, tương cảm với đất trời thiên nhiên, vạn vật, con người được bao bọc giữa sơn thủy hữu tình. Con người ở vị trí trung tâm nên không gian mang tính đối ứng, con người là “tâm đối xứng của không gian ấy“: Bạch nhật y sơn tận Hoàng Hà nhập hải lưu Dục cùng thiên lý mục Cánh thướng nhất tằng lâu. (Đăng Quán Tước lâu - Vương Chi Hoán) Ta thấy xuất hiện chiều cao chót vót của lầu Quán Tước mà đứng trên có thể thấy mọi phía.
Không phải ngẫu nhiên trong thơ Đường có nhiều bài thơ có "đăng” đến thế: Đăng cao, Đăng U Châu đài ca, Đăng Quán Tước lâu. Lên cao để chiếm lỉnh không gian bao la rộng lớn, càng lên cao lại càng thấy xa, xa gắn chặt với cao. Không gian được đặt trong sự tương xứng bắc - nam, đông - tây, trên cao - dưới thấp, trái - phải. Nó được đo bằng các đại lượng lớn.
Bên cạnh không gian cao, xa, trong thơ Đường, không gian tĩnh cũng là một đề tài rất quen thuộc và thu được những thành tựu đáng kể, tác giả miêu tả cái động cốt làm rõ cái tĩnh : Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (Phong Kiều dạ bạc - Trương Kế) Nguyệt, sương, đốm lửa chài là những từ ngữ diễn tả không gian yên tĩnh, những tiếng động “ ô đề “, “ chung thanh” chìm ngay vào cái yên tĩnh, vắng lặng đó của không gian; tiếng chuông vang lên có sức tác động mạnh mẽ đến tâm tư con người.