CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề ” xuất phát từ thuật ngữ “ Orixtic ” hay còn gọi là phương pháp phát kiến, tìm tòi.
Điều này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như A.vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Các nhà khoa học này đã nêu lên phương án tìm tòi, phát kiến trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức của học sinh bằng cách đưa học sinh vào hoạt động tìm kiếm ra tri thức, học sinh là chủ thể của hoạt động học, là người sáng tạo ra hoạt động học. Đây có thể là một trong những cơ sở của phương pháp phát iện và giải quyết vấn đề đầu tiên. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, xã hội phát triển mạnh, đôi lúc xuất hiện mâu thuẫn trong giáo dục, đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục ngày càng cao, khả năng sáng tạo của học sinh ngày càng tăng với tổ chức dạy học còn lạc hậu.
Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề ra đời. Phương pháp này đặc biết được trú trọng ở Ba Lan. Okon – nhà giáo dục học người Ba Lan đã làm sáng tỏ phương pháp này thực sự là một phương pháp dạy học tích cực, tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ dừng ở việc ghi lại những thực tiễn thu được từ việc sử dụng phương pháp này chứ chưa đưa ra đầy đủ cơ sở lý luận cho phương pháp này. Theo như quan điểm của nhà tiết học người Mỹ Jonh Dewey vào thế kỷ XX khi chủ trương: “Học sinh đến trường không chỉ tiếp thu những tri thức được ghi vào một chương trình mà có lẽ không bao giờ dùng đến mà chính là giải quyết các bài toán mà nó gặp hằng ngày, về phía ông thầy thì ông ta sẽ hoạt động như một người bạn có kinh nghiệm và hướng dẫn học sinh những gì mà thầy biết về vấn đề được đặt ra”.
Những năm 70 của thế kỷ XX, M. I Mackmutov đã đưa ra đầy đủ cơ sở lý luận của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. Ông đã chính thức đưa ra cơ sở lý luận của phương pháp phát hiện và giải quyết vấn 15 đề được kế thừa bởi dạy học Algorit (ơrictic): “Dạy học phát hiện là tạo ra một tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập”. Sang những năm 90 của thế kỷ XX thì việc tiếp cận quá trình dạy học theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn và được lan sang khu vực Đông Nam Á.
Đến nay, phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề đã được sử dụng phổ biến trên thế giới, gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà khoa học như: M. Ở Việt Nam Người đầu tiên đưa ra phương pháp này vào Việt Nam là dịch giả Phan Tất Đắc “Dạy học nêu vấn đề” (1977). Về sau, nhiều nhà khoa học nghiên cứu phương pháp này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim,. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thật sự là một phương pháp tích cực.
Trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp này là một trong những phương pháp chủ đạo được sử dụng trong các nhà trường nói chung và trường Tiểu học nói riêng. Tác giả Nguyễn Kỳ đã nghiên cứu việc áp dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong trường Tiểu học, bước đầu tiến hành thực nghiệm ở một số môn như môn Toán, Tự Nhiên Xã Hội, Đạo Đức đã thu được những kết quả cao. Hiện nay, phương pháp dạy học phát hiện phát hiện và giải quyết vấn đề đã thực sự được nhiều người quan tâm và đang từng bước nghiên cứu rộng rãi trong nhà trường Tiểu học. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trước đây có những tên gọi khác như: “Dạy học nêu vấn đề”, “Dạy học giải quyết vấn đề”, “Dạy học gợi vấn đề”.
Tuy nhiên, những tên gọi này chưa thể hiện đúng bản chất: gợi ra vấn đề và giúp học sinh giải quyết vấn đề, vậy nên Giáo sư Nguyễn Bá Kim đã sử dụng thuật ngữ “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”. Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, có thể thấy: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề đã được quan tâm 16 nghiên cứu ở mọi cấp học, bậc học từ mầm non cho đến đại học. Tuy nhiên việc nghiên cứu phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học một số nọi dung môn Toán lớp 4 thì chưa đi sâu một cách kỹ càng. Các quan niệm cơ bản về dạy và học tích cực Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học tích cực.
Vậy, phương pháp dạy học tích cực là gì? 1. Các quan niệm cơ bản về dạy và học tích cực Tính tích cực là sự biểu hiện nỗ lực của mỗi cá nhân bằng thái độ, ý chí, tình cảm trong quá trình tác động đến đối tượng nhằm thu được kết quả cao trong quá trình hoạt động nhận thức. Việc hình thành và phát triển tính tích cực cho học sinh là nhiệm vụ của giáo dục đào tạo nhằm đào tạo những con người năng động, có khả năng thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Có thể coi tính tích cực là một điều kiện, động lực đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách mỗi cá nhân trong quá trình giáo dục.
*Khái niệm tính tích cực trong nhận thức Theo I.F Khalamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động. Vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”. Bởi vì hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học. Hoạt động học tập thường hướng vào làm thay đổi chủ thể và kết quả là học sinh được phát triển một cách toàn diện.
Theo tác giả Trần Bá Hoành thì trong quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh, thì tính tích cực được thể hiện từ thấp đến cao trong quá trình nhận thức, và nó được thể hiện như sau: (1) Sao chép, bắt chước: Học sinh làm theo hay bắt chước các hành động, thao tác, cử chỉ hành vi hoặc là nhắc lại những gì đã trải qua, qua hoạt động này kinh nghiệm của học sinh được tích lũy dần. 17 (2) Tìm hiểu khám phá: Học sinh chủ động hơn trong quá trình hoạt động học tập, độc lập tìm ra các giải quyết vấn đề đang khúc mắc, tự mò mẫm bằng nhiều cách khác nhau để tìm ra lời giải hợp lý nhất. (3) Sáng tạo: Tính tích cực thể hiện trong khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn đề. Học sinh nghĩ ra một cách giải độc đáo đầy sáng tạo hay khả năng tự lắp đặt thử nghiệm để chứng minh bài học.
Nhu cầu chính là nguồn gốc của tính tích cực. Các nhu cầu này không bao giờ cạn mà nó luôn luôn là động cơ thúc đẩy con người ta hành động. Động cơ tạo ra hứng thú, mà hứng thú lại là tiền đề của tự giác. Do đó, trong quá trình dạy học cần phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh vươn lên bằng chính khả năng của mình.
Song để làm được điều đó chúng ta phải có một phương pháp dạy học tích cực để thục đẩy học sinh hành động. * Phương pháp tích cực Phương pháp tích cực dùng để chỉ các phương pháp dạy học mang tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động của học sinh trong đó tự học là nhân tố để bản thân người học phát triển toàn diện về mọi mặt. Phương pháp tích cực thì học sinh ở vị trí trung tâm dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của giáo viên.
Các đặc trưng của phương pháp dạy và học tích cực 1. Dạy học thông qua các tổ chức hoạt động học tập của học sinh Trong dạy học theo xu hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, người giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn tổ chức, chỉ đạo hướng dẫn học sinh hoạt động. Đó là hành động được xuất phát từ các vấn đề trong thực tế, người học được quan sát, thảo luận, kiểm nghiệm, kiểm tra và giải quyết vấn đề đặt ra… qua đó các em tự khám phá cái mới, cái chưa biết. Nhờ đó mà học sinh vừa nắm được kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo cùng các phương pháp đi tới kiến thức đó.
Qua đó học sinh bộc lộ và phát huy hết khả năng của bản thân. 18 Trong dạy học tích cực, người học không tiếp nhận tri thức một cách thụ động, mà họ luôn chủ động trong quá trình học tập của mình để hướng tới mục tiêu mà mình đề ra trước đó trong quá trình học tập. Đồng thời phương pháp dạy học tích cực còn giúp các em tích cực tham gia vào các hoạt động mang tính cộng đồng. Tăng cường học tập cá thể phối hợp với dạy học hợp tác Trong cùng một lớp học thì trình độ của mỗi em lại khác nhau do khả năng tư duy và phát triển khác nhau.
Điều này càng dễ thấy hơn khi bài học được nâng lên ở trình độ cao. Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ thì nhiều trường Tiểu học cũng đã đưa vào trong quá trình dạy học các phương tiện kỹ thuật cần thiết, nên cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu tìm hiểu và khám phá đỉnh cao tri thức của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình học tập, không phải tất cả các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đều được tạo ra từ hoạt động cá nhân, từ hoạt động dạy của giáo viên, mà còn từ hoạt động tiếp thu những kinh nghiệm từ bạn bè của mình, nên xưa đã có câu: “Học thầy không tày học bạn”. Hơn nữa, trong lớp học còn có sự tác động qua lại giữa cá nhân với nhau, cá nhân với nhóm… nghĩa là trong học tập thì học sinh có thể thảo luận, bàn bạc, tranh cãi và chia sẻ lẫn nhau, qua đó người học bộc lộ được hiểu biết, đồng thời tiếp nhận được những cái mà mình chưa biết để làm phong phú thêm vốn tri thức của mình.