Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản trị công và thực thi chính sách hỗ trợ kinh phí miễn thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP cùng Nghị định 67/2012/NĐ-CP của Chính phủ, công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh mẽ từ cơ chế giao chỉ tiêu bao cấp sang cơ chế đặt hàng, đấu thầu dịch vụ công ích. Tuy nhiên, theo số liệu điều tra của Viện Kinh tế và Quản lý thủy lợi, tính đến năm 2009, toàn quốc mới chỉ có 28 trên 63 tỉnh thành phố ban hành định mức và 50 trên 101 doanh nghiệp thủy nông (chiếm 49,5%) áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật vào thực tiễn quản lý.

Tại tỉnh Vĩnh Phúc, quá trình chuyển đổi mô hình từ Công ty Khai thác công trình thủy lợi Mê Linh thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thủy lợi Phúc Yên vào năm 2010 đã mở rộng đáng kể địa bàn và trách nhiệm quản lý. Doanh nghiệp chuyển từ phương thức chỉ quản lý công trình đầu mối và kênh dẫn đến cấp 3 sang quản lý toàn diện mạng lưới dẫn nước trực tiếp đến tận mặt ruộng. Hiện tại, công ty trực tiếp vận hành 11 hồ đập lớn nhỏ, 28 trạm bơm cố định với 56 tổ máy bơm và 281,1 km kênh mương nội đồng. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là xây dựng hệ thống phương pháp luận khoa học và xác lập 7 nhóm định mức kinh tế kỹ thuật phù hợp với mô hình doanh nghiệp mới trong giai đoạn 2009-2014. Việc hoàn thiện hệ thống định mức chuẩn xác giúp tối ưu hóa chi phí vận hành, nâng cao hiệu suất làm việc cho 99 cán bộ công nhân viên, đồng thời tạo cơ sở pháp lý minh bạch để cơ quan quản lý nhà nước thẩm định dự toán và thanh quyết toán kinh phí cấp bù hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết định mức kinh tế kỹ thuật theo tinh thần Nghị định số 201/CP ngày 26/5/1981 của Hội đồng Chính phủ, kết hợp cùng lý thuyết tổ chức lao động khoa học trong quản trị doanh nghiệp dịch vụ công ích. Theo lý thuyết quản trị định mức, định mức kinh tế kỹ thuật là lượng tiêu hao nguồn lực tối đa cho phép gồm lao động sống và lao động vật hóa để hoàn thành một đơn vị sản phẩm dịch vụ trong điều kiện tổ chức kỹ thuật trung bình tiên tiến.

Khung lý thuyết của đề tài bao quát 5 khái niệm cốt lõi: định mức lao động, định mức sử dụng nước tưới mặt ruộng, định mức tiêu thụ điện năng trạm bơm, định mức sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và định mức chi phí quản lý doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu tích hợp nguyên lý cân bằng nước và hiệu suất máy bơm, khẳng định rằng các định mức thủy nông mang tính đặc thù hệ thống cao, phụ thuộc mật thiết vào 3 yếu tố sản xuất cơ bản kết hợp với biến động khí tượng thủy văn của từng vùng sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu và cỡ mẫu nghiên cứu, đề tài tiến hành khảo sát và thu thập số liệu toàn diện trên 100% hệ thống công trình của Công ty Thủy lợi Phúc Yên. Cỡ mẫu bao gồm 11 hồ đập (trong đó có 4 hồ lớn dung tích trên 1 triệu m3 như hồ Đại Lải 34,5 triệu m3, hồ Lập Đinh 3,2 triệu m3), 28 trạm bơm với 56 tổ máy, 281,1 km kênh mương, 111 cống đóng mở và 99 nhân sự khối công ích trong giai đoạn 3 năm liên tục từ 2009 đến 2011. Phương pháp chọn mẫu điển hình kết hợp điều tra toàn bộ được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao về không gian lưu vực và chu kỳ mùa vụ canh tác.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích khảo sát đo đếm thực địa kết hợp phương pháp tiêu chuẩn và phương pháp thống kê kinh nghiệm là do hoạt động khai thác thủy nông chịu ảnh hưởng lớn từ thời tiết bất thường. Phương pháp phân tích phân chia quy trình vận hành thành từng bước thao tác, tiến hành chụp ảnh ngày làm việc và bấm giờ đo đếm lưu lượng máy bơm thực tế. Cách tiếp cận này giúp loại bỏ thao tác thừa, định lượng chính xác mức tiêu hao điện năng và vật tư bôi trơn, nâng cao độ tin cậy của định mức thêm 15% đến 20% so với phương pháp thống kê thuần túy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc áp dụng định mức trên toàn quốc có sự chênh lệch sâu sắc giữa các vùng miền: vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng định mức cao nhất đạt 69,2% (27 trên 39 doanh nghiệp), trong khi vùng Bắc Trung Bộ chỉ đạt 10% (2 trên 20 doanh nghiệp). Định mức lao động cũng phân hóa mạnh mẽ, dao động từ mức thấp 0,33 đến 3,93 công/ha/năm tại Đồng bằng sông Cửu Long lên mức cao 3,55 đến 8,36 công/ha/năm tại vùng Đông Bắc.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật do Công ty Thủy lợi Phúc Yên quản lý bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tổng chiều dài kênh mương là 281,1 km nhưng tỷ lệ kiên cố hóa mới chỉ đạt 29%, còn lại 71% là kênh đất gây thất thoát nguồn nước rất lớn. Toàn bộ hệ thống có 455 công trình trên kênh nhưng chỉ có 43 công trình có cánh điều tiết (chiếm 9,45%). Đồng thời, có tới 65 trên 111 cống đóng mở (chiếm 58,56%) sử dụng máy đóng mở loại nhỏ V0 đến V1 chưa được bảo dưỡng thường xuyên đúng quy chuẩn kỹ thuật.

Thứ ba, hiệu suất khai thác thực tế thấp hơn đáng kể so với năng lực thiết kế ban đầu. Hồ Đại Lải có dung tích thiết kế 34,5 triệu m3 phục vụ 2.900 ha nhưng diện tích tưới thực tế chỉ đạt 1.100 ha (tương đương 37,93% thiết kế). Tương tự, hệ thống 25 trạm bơm tưới có diện tích tưới thực tế 527 ha so với thiết kế 900 ha (đạt 58,56%), và 3 trạm bơm tiêu thực tế chỉ tiêu thoát được 1.000 ha so với năng lực thiết kế 2.150 ha (đạt 46,51%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của hiệu quả vận hành thấp bắt nguồn từ sự thiếu vắng một hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật đồng bộ để làm căn cứ giao khoán trách nhiệm đến từng tổ trạm và người lao động. Khi chuyển giao các công trình nội đồng về công ty, lực lượng lao động 99 người phải bố trí dàn trải trên địa bàn rộng, trong khi việc thanh toán chi phí vẫn mang tính cào bằng, chưa gắn quyền lợi kinh tế với khối lượng công việc hoàn thành.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh định mức lao động và định mức sử dụng nước mặt ruộng giữa 7 vùng sinh thái nông nghiệp, phản ánh sự biến thiên của nhu cầu nước tưới lúa vụ Đông Xuân từ 5.099 đến 7.667 m3/ha tại Đồng bằng sông Hồng so với mức trên 10.500 m3/ha tại Tây Bắc và Tây Nguyên. Bên cạnh đó, việc lập bảng ma trận tương quan giữa tỷ lệ cứng hóa kênh mương với định mức điện năng tiêu thụ (từ 196,4 đến 268,2 kWh/ha) sẽ giúp nhà quản lý lượng hóa chính xác lượng điện lãng phí hàng năm do chất lượng lòng dẫn suy giảm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành và áp dụng hệ thống định mức lao động tổng hợp kết hợp cơ chế khoán quỹ lương đến từng cụm trạm cho 99 cán bộ công nhân viên, hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất lao động từ 15% đến 20% trong giai đoạn 2014-2016, do Ban Giám đốc Công ty Thủy lợi Phúc Yên chủ trì phối hợp cùng các phòng ban chức năng thực hiện.

Thứ hai, chuẩn hóa định mức tiêu hao điện năng tại 28 trạm bơm đầu mối, phấn đấu khống chế lượng điện bơm tưới lúa vụ Đông Xuân trong khoảng 196,4 đến 268,2 kWh/ha và điện bơm tiêu vụ mùa dưới 127,7 kWh/ha, giảm 10% chi phí điện năng tiêu thụ mỗi vụ, do Phòng Quản lý nước và công trình kiểm soát định kỳ từ quý I/2015.

Thứ ba, phê duyệt kế hoạch đầu tư kiên cố hóa hệ thống kênh mương, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ kênh kiên cố từ 29% lên trên 50% đối với toàn bộ 281,1 km kênh vào năm 2020, nhằm giảm tổn thất lưu lượng nước tưới xuống dưới mức 15%, do Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bố trí vốn ngân sách.

Thứ tư, thiết lập định mức chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định ở mức 1,5% đến 2,5% nguyên giá tài sản quy đổi cho 11 hồ đập và 56 tổ máy bơm, đồng thời ban hành định mức dầu mỡ bôi trơn cho 111 cống đóng mở, triển khai thực hiện định kỳ hàng quý từ quý IV/2014 do Phòng Kế toán tài vụ và Xí nghiệp Thủy lợi Phúc Yên chịu trách nhiệm thực thi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và chuyên viên kế hoạch kỹ thuật tại 50 doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi trên toàn quốc có thể áp dụng trực tiếp phương pháp luận của đề tài để thiết lập 7 bộ định mức nội bộ, phục vụ công tác giao khoán chi phí và tinh gọn bộ máy vận hành tại cơ sở.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính tại 63 tỉnh thành phố có thể sử dụng các chỉ tiêu định mức trong luận văn làm cơ sở khoa học để thẩm định dự toán đặt hàng dịch vụ công ích thủy nông và quyết toán kinh phí cấp bù theo Nghị định 67/2012/NĐ-CP.

Thứ ba, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên, Quản trị doanh nghiệp tại các trường đại học khối kỹ thuật và kinh tế có thể khai thác bộ dữ liệu thực chứng từ 28 trạm bơm và 11 hồ chứa phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ tư, các kỹ sư vận hành và đơn vị tư vấn thiết kế công trình thủy lợi có thể sử dụng các định mức tiêu hao vật tư cho 111 cống điều tiết và định mức điện năng của 56 máy bơm làm tiêu chuẩn kỹ thuật khi lập báo cáo kinh tế kỹ thuật cho các dự án nâng cấp hệ thống thủy nông.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất, vì sao không thể áp dụng chung một bộ định mức kinh tế kỹ thuật thủy lợi thống nhất cho tất cả các địa phương trên toàn quốc? Mỗi hệ thống thủy nông phụ thuộc chặt chẽ vào địa hình tự nhiên và loại hình công trình. Thống kê thực tế cho thấy định mức lao động tại Đồng bằng sông Cửu Long chỉ từ 0,33 đến 3,93 công/ha/năm, trong khi vùng Đông Bắc lên tới 3,55 đến 8,36 công/ha/năm. Nhu cầu nước tưới lúa vụ Đông Xuân tại Đồng bằng sông Hồng dao động 5.099 đến 7.667 m3/ha nhưng vùng Tây Bắc lên tới 8.781 đến 10.827 m3/ha. Do đó, mỗi đơn vị cần xây dựng định mức riêng phù hợp với điều kiện vận hành cụ thể.

Thứ hai, việc nhà nước thực hiện miễn thủy lợi phí đặt ra thách thức gì cho công tác quản trị định mức của doanh nghiệp? Khi chuyển sang cơ chế nhà nước cấp bù kinh phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP và Nghị định 67/2012/NĐ-CP, định mức kinh tế kỹ thuật trở thành thước đo pháp lý duy nhất để xác định dự toán và thanh quyết toán. Định mức chuẩn xác giúp kiểm soát minh bạch quỹ lương cho 99 lao động, chi phí điện năng tại 28 trạm bơm và ngăn ngừa nguy cơ thâm hụt tài chính doanh nghiệp.

Thứ ba, tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương chỉ đạt 29% gây ra những tác động tiêu cực nào đến chi phí sản xuất? Việc 71% chiều dài trên tổng số 281,1 km là kênh đất làm gia tăng mức độ thẩm thấu và thất thoát nước, buộc các trạm bơm phải kéo dài thời gian vận hành từ 15% đến 25%. Điều này trực tiếp làm tăng định mức tiêu hao điện năng tại 25 trạm bơm tưới và làm phát sinh thêm kinh phí nạo vét lòng kênh hàng năm.

Thứ tư, bảy nhóm chỉ tiêu định mức cốt lõi được xây dựng trong đề tài bao gồm những nội dung cụ thể nào? Hệ thống bao gồm: định mức lao động và đơn giá tiền lương; định mức sửa chữa thường xuyên tài sản cố định; định mức sử dụng nước tưới mặt ruộng; định mức điện năng bơm tưới; định mức điện năng bơm tiêu; định mức vật tư bảo dưỡng cho 111 cống và 56 máy bơm; định mức chi phí quản lý doanh nghiệp (chiếm từ 5,82% đến 24,08% tổng quỹ lương).

Thứ năm, phương pháp phân tích khảo sát thực địa đem lại lợi ích gì vượt trội so với phương pháp thống kê kinh nghiệm? Phương pháp phân tích khảo sát tiến hành theo dõi, đo đếm trực tiếp từng công đoạn vận hành tại hiện trường hồ đập và trạm bơm. Cách làm này giúp loại bỏ triệt để các lãng phí thao tác thừa, mang lại kết quả định mức đạt trình độ trung bình tiên tiến với độ chính xác cao hơn từ 15% đến 20% so với việc chỉ tổng hợp số liệu lịch sử.

Kết luận

Đề tài nghiên cứu đã giải quyết toàn diện bài toán xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thủy lợi tại Công ty Thủy lợi Phúc Yên qua 5 đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp luận về định mức kinh tế kỹ thuật áp dụng cho doanh nghiệp thủy nông công ích sau khi đổi mới mô hình quản trị.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng khai thác 11 hồ đập, 28 trạm bơm cố định, 281,1 km kênh mương và hiệu suất làm việc của 99 cán bộ công nhân viên giai đoạn 2009-2011.
  • Xây dựng thành công hệ thống 7 nhóm định mức chuyên ngành đạt độ chính xác cao dựa trên phương pháp phân tích khảo sát kết hợp phương pháp tiêu chuẩn.
  • Đề xuất lộ trình giao khoán chi phí và kiểm soát định mức giúp tiết kiệm 10% điện năng tiêu thụ và nâng cao 15% đến 20% năng suất lao động trong giai đoạn 2014-2016.
  • Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và các cơ quan chức năng phê duyệt phương án đặt hàng dịch vụ công ích giai đoạn 2015-2020.

Hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật này là công cụ then chốt giúp các doanh nghiệp thủy nông nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên nước, tối ưu hóa ngân sách nhà nước và phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững.