ĐẶT VẤN ĐỀ Đối với bất cứ ngành nào quy hoạch đều đóng vai trò quan trọng trong việc định hƣớng phát triển của ngành. Một quy hoạch hiệu quả sẽ giúp phát triển bền vững ngành về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Lâm nghiệp là một ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng nhƣ các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trƣờng có liên quan đến rừng. Hiện nay, vai trò của rừng nói riêng hay ngành lâm nghiệp nói chung không những đƣợc đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trƣớc mắt thu đƣợc từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về môi trƣờng.
Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến khu vực phụ cận cũng nhƣ nhiều ngành sản xuất khác. Công tác quy hoạch phân chia ba loại rừng chƣa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế ở một số địa phƣơng, việc sử dụng rừng chƣa đúng mục đích. Những tồn tại này làm cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gặp nhiều khó khăn. Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phƣơng án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý.
Huyện Đạ Huoai là một huyện ngh o nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn huyện nằm trên các trục giao thông huyết mạch lƣu thông giữa tỉnh Lâm Đồng với các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đây là nơi có các ngành kinh tế đang phát triển nhƣ: Nông, lâm, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thƣơng mại. Lâm nghiệp là một ngành có vai trò quan trọng trong đời sống, kinh tế - xã hội của huyện.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 31.916 ha (chiếm 64,44 diện tích tự nhiên), trong đó: Rừng phòng hộ xung yếu: 9.402 ha; Rừng sản xuất: 22.Việc xây dựng quy hoạch kế hoạch sử dụng rừng là cấp thiết và rất quan trọng trong việc quản lý, khai thác các giá trị tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp phục vụ xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Đầu năm 2008, cùng với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Đạ Huoai đã thực hiện quy hoạch lại 3 loại rừng theo Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 19/02/2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng, nhằm cân đối lại cơ cấu 3 loại rừng trong đất lâm nghiệp để phát huy tối đa về hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp. Kết quả rà soát đã làm thay đổi quy mô, vị trí, diện tích 3 loại rừng và kế hoạch hàng năm trong công tác quản lý Nhà nƣớc về rừng và đất lâm nghiệp nói chung và của huyện Đạ Huoai nói riêng. Những thay đổi trên đòi hỏi phải xây dựng lại phƣơng án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của huyện Đạ Huoai cho phù hợp với quy hoạch 3 loại rừng, tiếp cận các quan điểm mới trong quy hoạch nhằm góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của ngƣời dân trong vùng, thực hiện xoá đói giảm ngh o và đƣa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, để có những cơ sở khoa học góp phần quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện theo hƣớng bền vững, trên cơ sở tiềm năng đất đai, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải coi trọng cả 4 khâu: trồng, bảo vệ, làm giàu rừng và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng. Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng phải đặt trong mối quan hệ tổng thể, hài hòa và ăn khớp với quá trình chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; không gây cản trở mà phải hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Đó là lý do tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đạ Huoai- tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2015-2020 tầm nhìn đến năm 2025”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Những vấn đề về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng 1. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên thế giới Lịch sử phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tƣ bản chủ nghĩa. Do công nghiệp phát triển, cơ sở hạ tầng đƣợc đầu tƣ nên việc khai thác và vận chuyển gỗ trở nên dễ dàng hơn, nhu cầu của thị trƣờng cũng đƣợc tăng cao. Ngành sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phƣơng của phong kiến và bƣớc vào thời đại hàng hóa Tƣ bản chủ nghĩa.
Thực tế sản xuất đã không còn bó hẹp trong sản xuất gỗ đơn thuần mà cần có ngay lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi dụng tài nguyên rừng một cách bền vững đem lại lợi nhuận cao và lâu dài. Chính vì vậy mà hệ thống hoàn chỉnh về mặt lí luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã đƣợc hình thành. Quy hoạch lâm nghiệp đƣợc xác định nhƣ một chuyên ngành bắt đầu bằng việc quy hoạch vùng từ thế kỷ XVII, theo Orschowy vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở châu Âu phát triển ở mức cao trên cơ sở quy hoạch sử dụng. Đầu thế kỷ XVIII, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ dừng lại ở giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lƣợng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kì khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lƣợng hoặc theo diện tích.
Phƣơng thức này phục vụ cho phƣơng thức kinh doanh rừng chồi, chu kì khai thác ngắn. Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ XIX phƣơng thức kinh doanh rừng chồi đƣợc thay bằng kinh doanh rừng hạt với chu kì khai thác dài; phƣơng thức kinh doanh “khoanh khu chặt luân chuyển” nhƣờng chỗ cho phƣơng thức “chia đều” và trên cơ sở đó khống chế lƣợng chặt hàng năm. Đến năm 1816 xuất hiện phƣơng pháp "phân kỳ lợi dụng" của H.cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy nó làm lƣợng chặt hàng năm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Phƣơng pháp “bình quân thu hoạch” và sau này là phƣơng pháp “cấp tuổi” chịu ảnh hƣởng của “lí luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng nhƣ về diện tích và trữ lƣợng, vị trí và đƣa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác.
Hiện nay biện pháp kinh doanh rừng này đƣợc dùng phổ biến ở các nƣớc có tài nguyên rừng phong phú. Còn phƣơng pháp “lâm phần kinh tế” và hiện nay là phƣơng pháp “lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lƣợng và biện pháp kinh doanh, phƣơng thức điều chế rừng. Cũng từ phƣơng pháp này còn phát triển thành “phương pháp kinh doanh lô” và “phương pháp kiểm tra”. Quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng hình thành môn học đầu tiên ở nƣớc Đức, Áo và mãi đến thế kỷ XVIII mới trở thành môn học hoàn chỉnh và độc lập.
Thời kỳ đầu môn học quy hoạch lâm nghiệp lấy việc xác định sản lƣợng rừng làm nhiệm vụ duy nhất nên gọi là môn học “Tính thu hoạch rừng”. Sau nội dung quy hoạch lâm nghiệp chuyển sang bàn về việc lợi dụng bền vững nên môn học đƣợc đổi thành môn “Quy ước thu hoạch rừng”. Sau này nội dung môn học chuyển sang nghiên cứu về điều kiện sản xuất và tổ chức kinh doanh rừng, tổ chức rừng và chi phối về giá cả, lợi nhuận và môn học có tên là “Quy ước kinh doanh rừng”. Hiện nay tùy theo mục đích, nhiệm vụ của quy hoạch lâm nghiệp phải đảm nhiệm trong từng nƣớc, từng địa phƣơng và trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà môn học có tên gọi và nội dung khác nhau.
Ở các nƣớc thuộc Liên xô cũ có tên là “Quy hoạch rừng”. Các nƣớc có trình độ kinh doanh cao hơn và công tác quy hoạch yêu cầu tỉ mỉ hơn ( Đức, Áo, Thụy Điển,…) môn học có tên là “Thiết kế rừng”. Các nƣớc phƣơng Tây nhƣ Anh, Mỹ, Canada,…gọi tên môn học là “Quản lý rừng”. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam Quy hoạch lâm nghiệp đã đƣợc áp dụng ở nƣớc ta từ thời kì Pháp thuộc.
Nhƣ việc xây dựng phƣơng án sản xuất rừng chồi, sản xuất củi. Giai đoạn từ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 năm 1955 - 1957 tiến hành sơ thám và mô tả ƣớc lƣợng tài nguyên rừng. Giai đoạn 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lƣợng rừng miền Bắc và những năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới đƣợc áp dụng ở miền Bắc. Từ năm 1965 đến nay lực lƣợng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng đƣợc tăng cƣờng và mở rộng.
Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lƣợng điều tra quy hoạch của Sở lâm nghiệp không ngừng cải tiến phƣơng pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nƣớc cho phù hợp với điều kiện và tài nguyên rừng nƣớc ta. Tuy nhiên so với lịch sử phát triển các nƣớc thì quy hoạch lâm nghiệp nƣớc ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về cơ sở kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chƣa đƣợc giải quyết nên công tác này ở nƣớc ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [33]. Song song với việc tiến hành và áp dụng công tác quy hoạch lâm nghiệp trong thực tiễn sản xuất, môn học quy hoạch lâm nghiệp cũng đƣợc đƣa vào giảng dạy ở một số trƣờng đại học.
Trƣớc năm 1975 bài giảng của môn này ở miền Bắc chủ yếu dựa giáo trình quy hoạch rừng còn ở miền Nam dựa vào giáo trình Điều chế rừng của nƣớc ngoài. Nội dung của giáo trình này chủ yếu là phục vụ cho việc tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng đồng tuổi, ít loài cây chƣa phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng nƣớc ta, có một bộ phận rất lớn rừng tự nhiên khác tuổi, nhiều loài cây. Đồng thời mới chỉ dừng lại ở tổ chức kinh doanh rừng mà chƣa giải quyết sâu sắc về tổ chức rừng.