Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ khi Luật BV&PTR năm 2004 có hiệu lực thi hành thì nhiệm vụ trung tâm giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp là BV&PTR, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay sự giảm sút nghiêm trọng của rừng về cả số lượng và chất lượng trên toàn cầu và quốc gia thì nhiệm vụ BV&PTR phải được đặt lên trên hết, nội dung của quy hoạch BV&PTR bao trùm hầu như toàn bộ nội dung của QHLN. Quy hoạch BV&PTR nhằm mục đích định hướng và góp phần cho quản lý rừng bền vững, hay còn gọi là quản lý rừng có chất lượng. Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng bộ hệ thống các hành động nhằm không ngừng phát huy với hiệu quả cao, ổn định liên tục những tác dụng và lợi ích của rừng trên các lĩnh vực về môi trường, kinh tế, văn hoá, xã hội hiện tại và lâu dài. Các phương thức quản lý rừng trước đây đã bộc lộ nhiều nhược điểm, diện tích rừng bị thu hẹp nhanh, đồng thời với nó là các khu rừng có chất lượng ngày càng kém là do phương thức quản lý rừng truyền thống dựa trên khai thác gỗ là chính và tách vai trò con người cũng như các bên liên quan.
Thu hút các bên có liên quan vào tiến trình lập kế hoạch và thực thi quản lý rừng, đặc biệt là các cộng đồng sống trong rừng và gần rừng, có đời sống phụ thuộc vào rừng là điều quan trọng trong xây dựng một chiến lược quản lý rừng bền vững, chia sẻ lợi ích với các bên. Ngày nay, do dân số trên thế giới không ngừng tăng lên tạo ra áp lực lớn, nền kinh tế thế giới cũng phát triển một cách mạnh mẽ; đồng thời phát triển các ngành công nghiệp, sự đô thị hoá cũng diễn ra với tốc độ nhanh do vậy tài nguyên rừng của thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng, môi trường bị suy thoái, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh xảy ra ngày càng tăng. Chính vì vậy, việc quy hoạch BV&PTR để sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng cũng như xây dựng nền lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Trên thế giới Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phải đi trước một bước. Quy hoạch BV&PTR là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn và nằm trong quy hoạch vùng. Do vậy công tác quy hoạch BV&PTR cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo quy hoạch sau đè lên quy hoạch trước, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành và tuân thủ theo nguyên tắc, định hướng của Quy hoạch vùng. Nói chung, quy hoạch chính là tổ chức không gian và thời gian cho phát triển KT-XH, môi trường hoặc cho một ngành, một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể.
Quy hoạch vùng lãnh thổ của một số nước trên thế giới. Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan: Về hệ thống phân vị, quy hoạch tiến hành theo ba cấp: Quốc gia, Vùng, Á vùng hay địa phương. Vùng (Region) được coi như là một Á miền (Subdivision) của đất nước. Đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành Á miền theo các phương diện khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình.
Đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: Đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử. Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất. Sự phân bố các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ. Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp Á miền được xây dựng theo 2 cách: Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia.
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia. Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trung xây dựng ở 2 vùng Trung tâm và Đông Bắc. Trong 30 nằm (1961 - 1988 đến 1992 - 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6 %, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây.
a) Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari - Sử dụng một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước - Đảm bảo an ninh môi trường. - Bố trí hợp lý các hoạt động của con người, đảm bảo tái sản xuất mở rộng. - Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng: + Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ. + Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát. + Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có sự tác động của con người. + Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. + Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
Tiến hành quy hoạch lãnh thổ vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương dựa trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước. Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ bao gồm các vùng lớn ranh giới bằng một tỉnh hoặc lớn hơn một tỉnh. Nhiệm vụ khảo sát quy hoạch lãnh thổ vùng, trong đó có quy hoạch vùng nông nghiệp là sự bố trí đúng đắn và hợp lý các hoạt động khác trên lãnh thổ vùng, sử dụng một cách có hiệu quả nhất là nguồn tài nguyên thiên nhiên, liên hiệp với các môi trường sống, hoàn thiện mạng lưới nông thôn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 b) Nội dung của quy hoạch vùng: Thông thường, đồ án quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể hiện quy hoạch chi tiết và giải quyết các vấn đề sau: - Chuyên môn và cụ thể hoá hoá sản xuất nông nghiệp.
- Với mục đích liên kết dọc tiến hành phối hợp hợp lý sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành sản xuất khác. - Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng và sản xuất. - Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn. - Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao động ăn, ở, nghỉ ngơi.
Quy hoạch vùng ở Pháp Quan điểm chung về hệ thống các mô hình quy hoạch vùng của M. Piene Thénevin), một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công miền Tây Nam nước cộng hoà Côte d'ivoire. Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc. Ở mô hình quy hoạch vùng này, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài.
a) Các hoạt động sản xuất - Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống). - Hoạt động khai thác rừng. - Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ thương mại. b) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp.
c) Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài. Quy hoạch BV&PTR Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa kéo theo sự phát triển của BV&PTR: Do sự phát triển của ngành công nghiệp và giao thông vận tải nên khối lượng gỗ yêu cầu ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của Phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa.
Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận Quy hoạch BV&PTR và điều chế rừng đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy. Phạm vi quy hoạch BV&PTR vào thời kỳ đầu thế kỷ 18 chỉ giải quyết việc "Khoanh khu chặt luân chuyển", có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng đem chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.
Vào thế kỷ 19, sau cách mạng công nghiệp, phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh hạt với chu kỳ khai thác dài. Và phương thức "Chia đều: của Hating đã thay thế phương thức "Khoanh khu chặt luân chuyển" bằng cách chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó khống chế lượng chặt hàng năm. Tiếp theo là phương pháp "Bình quân thu hoạch" ra đời, với quan điểm là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau.