Chương I: Tổng quan về ba tộc người Jarai, Churu và Êđê Chương II: Phong tục tập quán liên quan đến dựng nhà của ba tộc người Jarai, Churu và Êđê Chương III: Phong tục tập quá về các nghi lễ diễn ra trong khuôn viên ngôi nhà của ba tộc người Jarai, Churu và Êđê 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ BA TỘC NGƢỜI JARAI, CHURU VÀ ÊĐÊ 1. Tổng quan về tộc ngƣời Jarai 1. Dân số và địa bàn cư trú Trong các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên người Jarai có số dân đông nhất chiếm lĩnh một địa bàn rộng. Tộc người Jarai hay Gia – rai, Jrai, Djarai là một trong những cộng đồng cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên và là một trong năm tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo, nhóm Malayo – Polynedi bên cạnh các tộc người khác như ÊĐê, Raglai, ChuRu, Chăm.
Người Jarai sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh Gia Lai (90%), một bộ phận ở tỉnh Kon Tum (5%) và phía bắc tỉnh Đăc Lăc (4%). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Jarai Việt Nam có dân số 411.275 người, cư trú tại 47 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Jarai cư trú tập trung tại tỉnh Gia Lai (372.302 người, chiếm 29,2% dân số toàn tỉnh và 90,5% tổng số người Jarai tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Kon Tum (20.606 người), Đắc Lắc (16. Riêng ở Gia Lai, người Jarai là một trong hai dân tộc thiểu số được coi là cư dân bản địa.
và cư trú tập trung trên cao nguyên Pleiku, và các huyện phía nam của tỉnh. Xét về đơn vị hành chính thì khu vực cư trú của người Jarai ở Gia Lai thuộc thành phố Pleiku và các huyện: Chư Pah, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê; Ayun Pa, Ia Pa, Phú Thiện và Krông Pa. Tộc người Jarai được chia làm 5 nhóm chính: Jarai Chor (Cheo Reo hay Phun), Jarai Hđrung, Jarai A Ráp, Jarai Mthur, Jarai Tbuan. Mỗi tên gọi của từng nhóm đều gắn liền với địa danh hay truyền thuyết của khu vực mà nhóm người đó sinh sống.
Dân tộc Jarai có số lượng dân cư đông nhất trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các tộc người Mã Lai – Đa Đảo và xếp thứ 9 trong cộng đồng các dân tộc ít người hiện đang sinh sống trên đất nước ta. Một số đặc điểm văn hóa tộc người Đến nay, tổ chức xã hội cổ truyền duy nhất còn tồn tại trong khu vực người Jarai là plơi (hay bôn hoặc buôn) – Tạm gọi theo tiếng Việt là làng. Plơi là cách dùng phổ biến trong hầu hết các nhóm Jarai còn bôn hay buôn chỉ được sử dụng trong khu vực người Gia Rai Chor và Gia Rai Mthur. Làng của người Jarai thường ở gần nguồn nước, thuận tiện cho việc sản xuất nhưng không ẩm thấp.
Các làng Jarai thường cách biệt nhau. Đối với người người Jarai, quy mô làng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống cụ thể gắn với cảnh quan địa hình và trình độ kinh tế. Người Jarai sống thành từng làng (plơi hay bôn). Trong làng ông trưởng làng cùng các bô lão có uy tín lớn và giữ vai trò điều hành mọi sinh hoạt tập thể, ai nấy đều nghe và làm theo.
Những ngôi nhà sàn trong một làng Jarai cổ truyền thường quây quần gần nhau và bố trí theo định hướng bắc – nam. Những nhóm Jarai trên cao nguyên Pleiku ngay từ khi lập làng đã chọn một khu đất giành riêng cho việc xây dựng ngôi nhà chung của cộng đồng gọi là nhà Rông. Nhà rông mỗi làng to hay nhỏ phản ánh điều kiện kinh tế của dân cư trong làng. Nhà rông là nét đẹp của người dân Tây Nguyên nói chung và dân tộc Jrai nói riêng, nó là địa điểm được sử dụng với nhiều việc khác nhau, vào nhiều dịp cũng như các việc hệ trọng của làng, buôn cũng được thực hiện tại đây.
Tộc người Jarai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài xã hội, đàn ông đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa, có tục những người cùng dòng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố, nay tục này đã giảm. Nói đến tộc người Jarai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như “Đăm Di đi săn”, “Xinh Nhã”… Tộc người Jarai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn Trưng, đàn Tưng-nưng, đàm Krông-pút. Người Jarai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.
Trang phục của người Jarai thì thường thì đàn ông ở trần hoặc mặc áo chui đầu, mở ngực (ngắn tay) và đóng khố. Phụ nữ mặc áo chui đầu, không xẻ và váy với các màu chủ đạo: đen, đỏ, trắng… xen thêm hoa văn Jarai. Và trang phục này cũng được dùng trong các lễ hội của buônlàng và các dịp trọng đại như là lễ cưới hỏi. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.
Người Jarai lấy kinh tế trồng trọt làm gốc: lúa, bắp,mì. Dụng cụ gồm có cuốc( chong, achong) xưa kia làm bằng xương bả vai trâu, bò; dao ( rboc, tga) và rìu( giông). Địa điểm được thực hiện là các hma ( rẫy, ruộng, vườn). Thu hoạch chính bằng cánh tuốt lúa bằng tay là truyền thống.
Ngày nay là liềm và máy gặt. Về chăn nuôi chủ yếu là: trâu, bò, lợn, gà, chó, dê, ngựa, voi… dùng để phục vụ tín ngưỡng, tôn giáo và trao đổi hàng hóa. Ngoài ra thì còn có thêm các nghề phụ: mộc, dệt, đan lát, rèn… Thường thì các trai làng đi săn bắn cá nhân, nhóm, tập thể với các công cụ: ná, lao, giáo, bẫy… và hái lượm ( rau, măng), đánh, xúc cua, cá… Nhạc cụ bao gồm có cồng, chiêng, trống,…. Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên nói chung và người Jarai nói riêng, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.
Loại hình văn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa cồng chiêng đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005 Thế giới quan của người Jarai là vạn vật hữu linh. Thế giới có ba tầng: Giàng- người và ma quỉ (A tâu). Giàng có nhiều loại trong đó 3 loại được tôn trọng nhất: Giàng sang: những thần giúp con người dựng được nhà; Giàng Ala Bôn (thần làng) và Giàng Pên Ia (thần nước); giàng Pơ tao: Đứng đầu là vua Nước, vua Lửa. Họ thực chất là cầu nối giữa con người và thần linh, là những thầy cúng cầu mưa thuận gió hòa.
Người có hồn và khi chết biến thành ma. Người Jarai là chủ nhân của kho tàng văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc và độc đáo. Nó là một thực thể sống và là bộ phận quan trọng làm nên văn hóa tộc người. Văn học dân gian gồm có các thể loại: sử thi, truyện cổ, ngụ ngôn, truyện cười, câu đố.
Lễ hội của người Jarai gồm có: Lễ hội nông nghiệp gồm có lễ plách hma (thức ruộng,rẫy) khi lúa thì con gái, địa điểm: trên rẫy; lễ nhập lúa vào kho. Tiếp đến là lễ hội đời người: Lễ đặt tên, lễ thổi tai, các lễ cưới hỏi, tang ma…Lễ Pthi… Rồi có thêm lễ hội cộng đồng: Dựng làng, cúng nhà rông, mừng chiến thắng. Với một số lễ hội lớn, quan trọng như mừng nhà rông, Pthi.dân làng tổ chức " ăn trâu" (đâm trâu). Đêm trước đâm trâu, người ta " khóc tiễn trâu".
Đây là một giá trị văn hóa tộc người Jarai. Ngoài ra còn có lễ hội cồng chiêng và các lễ hội khác. Trong các dịp lễ hội, con trai, con gái trong buôn làng thỏa sức hẹn hò, vui nhảy, hát ca…. Jarai là tộc người có đời sống văn hóa phong phú, độc đáo và có giá trị nhân văn sâu sắc.
Tổng quan về tộc ngƣời Churu 1. Dân số và địa bàn cư trú Churu là cũng một trong những tộc người thiểu số thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa đảo, có dân số tương đối ít,là một trong những tộc người sinh sống 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lâu đời ở khu vực Tây Nguyên. Tuy dân số ít nhưng đồng bào Churu vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình, cùng các phong tục tập quán, lễ hội và kho tàng ca dao, tục ngữ, truyện cổ, trường ca, các loại nhạc cụ phong phú. Người Churu nói tiếng Chu Ru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Malay- Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo.
Tộc người Churu ở Việt Nam hiện có khoảng 20.000 người, cư trú tập trung chủ yếu tại các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận. Tộc người Churu còn có tên gọi là Chơ Ru, Choru, Kru, Ru. Người Churu sinh sống theo buôn làng và đứng đầu là người đàn ông cao tuổi có uy tín do các thành viên trong buôn làng lựa chọn và là người làm chủ các lễ nghi của buôn làng. Người Churu có truyền thống làm nông nghiệp và lúa trở thành cây lương thực chủ yếu.
Một số đặc điểm văn hóa tộc người Người Churu thường sống thành một đại gia lớn, trong đó thường có 3-4 thế hệ chung sống dưới một ngôi nhà. Điểm dễ nhận ra trong trang phục của người Churu là đàn ông và phụ nữ đều sử dụng khăn đội đầu. Đàn ông Churu thường mặc trang phục truyền thống có nền trắng, kể cả tấm choàng buộc chéo từ nách bên này sang nách bên kia, quần dài, tấm khăn quấn trên đầu cũng màu trắng. Bộ trang phục này mặc vào các dịp cưới xin, lễ hội, hay đi đám ma.
Còn ngày thường họ ăn mặc đơn giản hơn, quần trắng, áo dài trắng. Phụ nữ Churu thường mặc áo sơ mi khoác bên ngoài một tấm choàng, Tấm choàng màu trắng được mặc trong các dịp lễ còn tấm choàng màu đen sử dụng hàng ngày. Váy thường có màu xanh đen. Đối với các tộc người Tây Nguyên nói chung và Churu nói riêng, gùi là một vật dụng quen thuộc, luôn gắn bó với đồng bào trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.