Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ NGƯỜI DAO ĐỎ Ở HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI: - Vị trí địa lý: Lục Yên là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái. Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Yên Bái là 93km. Huyện có ranh giới hành chính: Phía Đông giáp huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, phía Nam giáp huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang và huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
Huyện Lục Yên có diện tích tự nhiên là 808,7km2 bằng 11% diện tích của tỉnh, xếp thứ 4/9 so với 9 huyện thị của tỉnh về quy mô đất đai. Toàn huyện có 23 xã và 1 thị trấn: trong đó có 10 xã và 4 thôn được Nhà nước công nhận là xã vùng III. Với vị trí địa lý nằm sâu trong nội địa, nhưng Lục Yên là cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái, giữa cửa khẩu Lào Cai với tỉnh Yên Bái, Hà Nội và cả nước. Lục Yên có vị trí quan trọng trong chiến lược bảo vệ an ninh quốc phòng đã khẳng định trong lịch sử đấu tranh giải phóng và bảo vệ tổ quốc.
Ngày nay, Lục Yên đã và đang được xây dựng, phát triển thành khu vực mạnh về kinh tế và trở thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. - Địa hình: Lục Yên là huyện miền núi có địa hình chia cắt bởi hai dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tạo ra các thung lũng, 6 bồn địa bằng phẳng là nơi tập trung sản xuất và sinh sống lâu đời của nhân dân các dân tộc. Phía hữu ngạn sông Chảy là dãy núi con voi chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trung bình 300- 400m, đỉnh núi cao nhất 1.148m, đỉnh tròn, sườn thoải, dốc 40o. Vùng thấp bằng phẳng được xen kẽ giữa hai dãy núi và triền sông chảy, đất đai phì nhiêu là những nơi tập trung dân cư sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp.
Với vị trí tự nhiên có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội nên đất đai của huyện Lục Yên ngày càng có giá trị, đó cũng là lợi thế để Lục Yên tiếp cận với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. - Khí hậu: huyện Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: + Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng10 + Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình từ 220C đến 240C, nhiệt độ cao nhất 390C - 410C, thấp nhất 1- 20C. Lượng mưa trung bình trong năm tương đối lớn từ 1500 - 2500mm tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10. Thời tiết khí hậu Lục Yên thích ứng với sự phát triển nông lâm nghiệp: Trồng rừng phòng hộ, rừng nguyên liệu, trồng cây công nghiệp như chè, cây ăn quả: cam, quýt, hồng không hạt.
- Thuỷ văn: Huyện nằm ở thượng lưu vùng hồ Thác Bà, hệ thống sông Chảy dài 65km với nhiều chi lớn nhỏ. Hệ thống sông ngòi được hình thành từ lưu vực chính: lưu vực sông Chảy và vùng hồ Thác Bà do xây dựng nhà máy 7 thuỷ điện Thác Bà. Diện tích mặt nước hồ Thác Bà là: 3.912,93ha, đây là nguồn mặt nước vô cùng quan trọng đối với đời sống dân sinh, kinh tế và nuôi trồng thuỷ sản của huyện. Chất lượng nước mặt và nước ngầm trên địa bàn huyện là rất tốt, chưa bị ô nhiễm bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.
- Thổ nhưỡng: Đất nông nghiệp ở huyện Lục Yên chiếm 14,7% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất Lục Yên mang tính chất nhiệt đới (điển hình là quá trình Ferarit mạnh) màu đỏ vàng, tầng dày có khả năng canh tác cao trong thung lũng sông Chảy, ven hồ hoặc trên các bậc thềm phù sa có thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng trồng cây hoa mầu, cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày. Phần lớn đất đai của huyện là đất lâm nghiệp (rừng và đất rừng) chiếm tới 70% diện tích đất tự nhiên. Đầu thế kỷ này rừng ở huyện Lục Yên còn diện tích khá lớn, chiếm gần 50.000 ha, có nhiều loại gỗ quý như: Lát hoa, Sến, Tấu, Chò Chỉ.
và bạt ngàn Tre, Nứa, Vầu. Trên rừng còn có các loại động vật quý hiếm : Hổ, Gấu, Cầy Hương. Một vài năm gần đây do dân số tăng nhanh, người dân đẩy mạnh hình thức canh tác lạc hậu là phá rừng làm nương rẫy, diện tích lúa nương lớn gấp nhiều lần so với trước kia, việc khai thác rừng bừa bãi dẫn đến diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. - Khoáng sản: Theo tài liệu nghiên cứu điều tra sơ bộ của Tổng cục địa chất trên địa bàn huyện Lục Yên có các loại khoáng sản: ڠThan nâu ở Hồng Quang: trữ lượng > 100.
ڠĐá ốp lát ở Tân Lĩnh, Liễu Đô: trữ lượng 270 triệu m3. 8 ڠPhốt pho rít ở Tân Lĩnh, Khai Trung: trữ lượng khoảng 5800 tấn ڠĐá quý, bán quá và vàng phân bố trên diện tích khoảng 113km3. ڠĐá vôi phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, có cường độ 300 - 500kg/cm2 có hàm lượng Ca cao với trữ lượng khoảng 135 triệu m3. - Giao thông: Hiện nay, đường ô tô đã mở thông đến 100% số xã trong toàn huyện, đáp ứng được phần nào nhu cầu đi lại, sinh hoạt của nhân dân [28].
CON NGƯỜI Ở HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI 1. Các dân tộc ở huyện Lục Yên Mảnh đất Lục Yên là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá phát triển liên tục và khá rực rỡ. Qua các di vật, di chỉ được phát hiện ở Hang Hùm, Trống đồng ở xã Minh Xuân. đã chứng minh điều đó.
Hiện nay vùng đất Lục Yên là nơi quần cư của 16 dân tộc anh em, với số dân tính đến ngày 31/12/2004 là 100.949 người, nhưng chủ yếu tập trung vào 4 dân tộc chính đó là: + Tày 53,4% + Kinh 19,9% + Dao 15,6% + Nùng 10,7% + Còn lại là các dân tộc khác như: Người Hoa, Thái, Sán Chay, Hà Nhì, Hmông. Đặc điểm phân bố dân cư của các dân tộc ở huyện Lục Yên là không có lãnh thổ tộc người rõ rệt, mà sống xen kẽ với nhau. Tuy vậy mỗi dân tộc đều 9 có những vùng quần tụ đông đảo của mình. Tại các vùng này dân số dân tộc đó chiếm tỷ lệ cao hơn so với các dân tộc khác cùng cư trú.
Tiêu biểu là người Tày cư trú tập trung ở xã Minh Xuân, Minh Chuẩn, Mường Lai, Liễu Đô, Khánh Thiện, Mai Sơn và Lâm Thượng; Người Kinh ở Thị trấn Yên Thế, xã Yên Thắng; Người Dao ở xã Trung Tâm, Phúc Lợi, Tân Lĩnh, Khai Trung và Tân Phượng; Người Nùng ở Tân Lĩnh, Tân Lập, Phan Thanh. Các dân tộc cư trú ở những độ cao khác nhau nên phân thành vùng cao và vùng thấp và rẻo giữa. Nhà ở, tập quán sản xuất, đời sống văn hoá của đồng bào ở mỗi vùng có những nét đặc thù riêng. Người Dao ở vùng cao và rẻo giữa trồng lúa nương và lúa nước, có 2 loại hình nhà ở: Nhà sàn và nhà đất, người Tày, Nùng ở nhà sàn với việc cấy trồng lúa nước là chủ yếu.
Cùng chung sống lâu đời trên mảnh đất Lục Yên, đồng bào các dân tộc có truyền thống yêu nước đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống chọi giặc giã. Từ khi có Đảng, truyền thống vẻ vang đó càng được hun đúc và trở thành sức mạnh to lớn cùng cả nước làm nên cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, vững bước đi lên trong thời kỳ đổi mới. Thực hiện chính sách dân tộc một cách sáng tạo và đúng đắn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, những năm qua huyện Lục Yên đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện: Duy trì sự tăng trưởng liên tục, nền kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Hệ thống cơ sở hạ tầng điện - đường - trường - trạm được xây dựng và phát triển, đời sống nhân dân cơ bản ổn định và có những xã được cải thiện rõ rệt, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.
đội ngũ khoa học kỹ thuật được nhà nước quan tâm đào tạo, số cán bộ có trình độ Đại học, trên Đại học ngày càng tăng, bản sắc văn hoá, kho tàng nghệ thuật cổ truyền các dân tộc được sưu tầm lưu giữ và phát huy. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng, quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân được củng cố bền chặt hơn. 10 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, được sự quan tâm của tỉnh và cả nước mỗi bước đi lên của huyện đều có sự đóng góp của từng dân tộc, từng dòng họ và từng gia đình. Tất cả kết thành khối đại đoàn kết toàn dân phấn đấu xây dựng huyện ngày càng giầu mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh, nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc [28].
Người Dao đỏ ở huyện Lục Yên 1. Nguồn gốc lịch sử và tên gọi của người Dao đỏ Trong các dân tộc anh em sinh sống ở huyện Lục Yên, người Dao là dân tộc có số dân khá đông, tính đến hết năm 2004 là 100.949 người chiếm 15,6% dân số trong toàn huyện. Địa bàn cư trú của người Dao đỏ chủ yếu ở rẻo giữa - vùng tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao. Người Dao đỏ sống tập trung đông nhất ở xã Tân Phượng, xã Khai Trung chiếm hơn 80% tổng số người Dao ở Lục Yên, sau đó đến các xã Phúc Lợi, và xã Tân Lĩnh.
Theo các nhà dân tộc học, người Dao sinh sống trên đất nước Việt Nam đã từ lâu nhưng chỉ đến nay tên Dao mới được xác định, cách đây không lâu đồng bào còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Trại, Mán, Động, Dạo, Xá. Qua tìm hiểu chúng ta thấy người Dao tự gọi mình là Kềm miền, Dìu miền, Kìm miền chúng đều có nghĩa là người ở rừng núi (Kềm, Dìu= rừng; Miền, Mèm = người) còn tên Mán bắt nguồn từ chữ Man (chỉ là một tên phiếm dịch mà người Trung Quốc gọi các dân tộc ở Phương Nam). Chúng ta đã biết người Dao chỉ là tộc người trong nhiều tộc người có tên gọi là Man, do đó tên Man không thể là tên gọi riêng của người Dao. Tên Động, Trại, Xá cũng đều là những tên không đúng với tên gọi của họ.
Tên Dạo 11 gọi chệch từ Dao, cũng như người Mèo gọi là người Mẹo [19, tr.