Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt ngày càng tăng của người dân, với mức tăng trưởng bình quân khoảng 2,19%/năm và mức tiêu thụ đạt 49,3 kg thịt hơi/người/năm (tương đương khoảng 30 kg thịt xẻ/người/năm vào năm 2013). Tuy nhiên, đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh truyền nhiễm phát triển và lây lan. Trong đó, hội chứng tiêu chảy (HCTC) ở lợn con giai đoạn từ sau khi sinh đến khi cai sữa là một trong những bệnh lý đường tiêu hóa phổ biến và phức tạp nhất, gây suy giảm nghiêm trọng khả năng tăng trọng, làm tăng tỷ lệ tử vong và gây tổn thất kinh tế trực tiếp cho các cơ sở chăn nuôi.

Nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn về kiểm soát dịch bệnh và nâng cao năng suất đàn lợn giống ngoại nuôi theo hướng công nghiệp, đề tài được triển khai với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu:
    1. Nâng cao trình độ chuyên môn thực hành thú y trong công tác chẩn đoán, điều trị và chăm sóc đàn lợn sinh sản.
    2. Nắm bắt thực trạng phát triển chăn nuôi tại địa phương, hoàn thiện kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và các biện pháp an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh tại cơ sở.
    3. Xác định nguyên nhân, đặc điểm dịch tễ và đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng, điều trị hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con.
  • Yêu cầu/Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xác định tình hình và tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại trại theo các yếu tố: tháng nuôi, lứa tuổi và tính biệt.
    2. Xác định tỷ lệ chết do mắc hội chứng tiêu chảy theo từng giai đoạn ngày tuổi.
    3. Thống kê, phân tích các triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh trên đàn lợn con mắc hội chứng tiêu chảy.
    4. Theo dõi và đánh giá hiệu lực của hai phác đồ điều trị kháng sinh kết hợp thuốc bổ trợ trên thực địa.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con ngoại (Landrace – Yorkshire) từ sơ sinh đến khi cai sữa (19 – 23 ngày tuổi).
    • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn nái sinh sản Phan Tấn Thành (trại Thành – Thúy), xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình.
    • Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện từ ngày 18/5/2016 đến ngày 18/11/2016 (dữ liệu theo dõi dịch tễ học thu thập liên tục từ tháng 6/2016 đến tháng 11/2016).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và bệnh học thú y

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết bệnh lý học thú y về hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia), tiêu chảy không nhiễm trùng (Non-infective diarrhoea), và bệnh phân trắng/phân sữa (Milk-Scours). Bệnh phát sinh do sự tác động tổng hợp của các nhóm nguyên nhân:

  • Căn nguyên vi sinh vật: Vi khuẩn đường ruột thuộc họ Enterobacteriaceae, điển hình là Escherichia coli (trực khuẩn Gram âm, sản sinh nội độc tố chịu nhiệt và ngoại độc tố không chịu nhiệt gây hoại tử/thần kinh), Salmonella (S. choleraesuis, S. typhimurium, S. enteritidis), Clostridium perfringens type C (gây viêm ruột hoại tử); các loại virus hướng tiêu hóa gồm Coronavirus (gây viêm dạ dày-ruột truyền nhiễm T.G.E), Rotavirus, Adenovirus, Pestivirus (gịch tả lợn), Herpesvirus (giả dại Aujeszky); ký sinh trùng (cầu trùng, giun sán).
  • Cơ chế phát sinh bệnh: Do thức ăn không tiêu làm tăng áp lực thẩm thấu trong lòng ruột kéo nước từ máu vào ruột; phản ứng viêm và độc tố vi khuẩn kích thích tăng tiết dịch nhầy và nước lên gấp 80 lần; giảm khả năng tái hấp thu nước ở thành ruột và tăng co bóp cơ trơn tống xuất chất chứa ra ngoài.
  • Dược lý trị liệu: Ứng dụng nhóm kháng sinh Fluoroquinolone (Norfloxacin trong chế phẩm Nor-100 với cơ chế ức chế enzyme DNA gyrase ngăn cản tổng hợp acid nucleic) và nhóm Beta-lactam kết hợp Polypeptide (Ampicillin ức chế tổng hợp thành tế bào qua protein PBP kết hợp Colistin sulfate trong Nova-amcoli), đi kèm liệu pháp bù nước, cân bằng điện giải và vitamin trợ lực (B-complex gồm Vitamin B1, Vitamin PP).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra dịch tễ gián tiếp: Thu thập và trích xuất dữ liệu lưu trữ trong sổ sách quản lý chăn nuôi và thú y của trang trại qua các năm 2014, 2015 và 2016.
  • Phương pháp theo dõi trực tiếp: Khám lâm sàng hàng ngày trên đàn lợn con từ khi sinh đến khi cai sữa; ghi nhận các biểu hiện bệnh lý, phân loại thể bệnh, màu sắc phân, tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết trên quy mô 718 cá thể thuộc 62 đàn.
  • Phương pháp thử nghiệm phân lô so sánh: Bố trí thí nghiệm lâm sàng so sánh hiệu quả của 2 phác đồ điều trị trên các cá thể mắc bệnh, đồng đều về giống, khối lượng, lứa tuổi và lứa đẻ của lợn mẹ (đánh dấu cá thể thử nghiệm bằng dung dịch xanh methylen).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được phân tích, tính toán các chỉ tiêu tỷ lệ phần trăm (%), thời gian điều trị trung bình theo phương pháp thống kê sinh vật học (Nguyễn Văn Thiện, 2000) và ứng dụng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày cơ sở khoa học và tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu tiêu thụ thịt lợn, áp lực dịch bệnh đường ruột trong điều kiện khí hậu miền núi Tây Bắc, xác lập hệ thống mục đích và các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được trong thời gian thực tập tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Điều kiện cơ sở thực tập: Trại nái Phan Tấn Thành có diện tích 1,8 ha tại xã Dân Hạ, Kỳ Sơn, Hòa Bình; quy mô 8 chuồng nuôi với diện tích 700 $\text{m}^2$/chuồng, khu chuồng đực 80 $\text{m}^2$; trang bị hệ thống giàn mát, quạt hút gió, tấm đan bê tông và sàn nhựa; nguồn nước ngầm đạt tiêu chuẩn môi trường. Quy mô đàn nái sinh sản tăng từ 130 con (năm 2014) lên 200 con (năm 2015) và đạt 350 con (tháng 11/2016); nái hậu bị tăng từ 50 lên 120 con; lợn đực giống từ 2 lên 7 con (tổng đàn tăng từ 182 lên 477 con).
  • Cơ sở lý luận về HCTC: Phân tích chi tiết đặc điểm hình thái, độc lực học của vi khuẩn E. coli, Salmonella, các loại virus, yếu tố dinh dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi; cơ chế bệnh sinh, bệnh tích đại thể ở dạ dày, ruột, gan, lách, thận.
  • Tổng quan nghiên cứu: Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước (Phan Đình Thắm, Lê Hữu Phước, Lê Văn Nam, Cù Hữu Phú, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Quế Côi...) và quốc tế (Grigg, Plonait, Bertschinger...) về vai trò của sữa đầu, biến thiên nhiệt độ, độc tố vi khuẩn ETEC và tình trạng kháng kháng sinh.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành

  • Quy định chi tiết đối tượng khảo sát là đàn lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến khi cai sữa.
  • Xác lập quy trình tính toán các chỉ tiêu dịch tễ: tỷ lệ mắc theo đàn, theo cá thể, theo lứa tuổi, theo tính biệt; tỷ lệ chết; tỷ lệ khỏi bệnh; thời gian điều trị trung bình; tỷ lệ tái nhiễm.
  • Thiết kế chi tiết sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh 2 phác đồ điều trị:
    • Phác đồ 1: Kháng sinh Nor-100 (Norfloxacin 10%, tiêm bắp 1 ml/15 kg thể trọng/ngày, dùng liên tục 3 – 5 ngày) kết hợp Vitamin B-complex (pha nước 1 g/2 lít hoặc trộn thức ăn 4 g/1 kg).
    • Phác đồ 2: Kháng sinh Nova-amcoli (Ampicillin trihydrate và Colistin sulfate, tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, dùng liên tục 3 – 5 ngày) kết hợp Vitamin B-complex.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

  • Công tác phục vụ sản xuất: Trực tiếp chăm sóc 50 nái chửa an toàn; chăm sóc 30 nái đẻ nuôi con an toàn 100%; phát hiện 20 nái động dục; phối giống 30 nái (đạt tỷ lệ thụ thai 93,33%); chăm sóc 86 lợn con sơ sinh đạt 92,47%; đỡ đẻ 130 ca; thiến 365 lợn đực; tiêm phòng sắt ($Fe + B_{12}$) cho 568 lợn con; xuất bán 1.274 lợn giống an toàn. Thực hiện tiêm phòng các loại vắc xin: Dịch tả (298 con, đạt 100%), Tai xanh PRRS (52/53 con, đạt 98,11%), Lở mồm long móng LMLM (57 con, đạt 100%), Khô thai (30 con, đạt 100%), Giả dại (28 con, đạt 100%). Can thiệp điều trị lâm sàng: Viêm tử cung khỏi 8/9 con (88,88%), Viêm vú khỏi 3/3 con (100%), Viêm phổi khỏi 26/30 con (86,66%).
  • Tình hình dịch tễ học HCTC:
    • Theo thời gian: Theo dõi 718 lợn con thuộc 62 đàn trong 6 tháng, ghi nhận 174 cá thể mắc bệnh (tỷ lệ mắc chung theo cá thể là 24,23%; theo đàn là 37,09%). Tỷ lệ mắc cao nhất vào tháng 6 (50,00% theo đàn; 27,82% theo cá thể) và tháng 7 (40,00% theo đàn; 25,42% theo cá thể); thấp nhất vào tháng 11 (30,00% theo đàn; 20,86% theo cá thể).
    • Theo lứa tuổi: Giai đoạn 7 – 14 ngày tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (27,92% - 67/240 con); giai đoạn 14 – 21 ngày tuổi chiếm 25,10% (58/231 con); giai đoạn 1 – 7 ngày tuổi có tỷ lệ mắc thấp nhất (19,84% - 49/247 con).
    • Theo tính biệt: Tỷ lệ mắc ở lợn đực là 24,66% (90/365 con) và lợn cái là 23,79% (84/353 con), không có sự sai khác rõ rệt giữa hai giới tính.
  • Triệu chứng lâm sàng (n = 174 con): 100% lợn mắc bệnh có biểu hiện phân loãng, có mùi tanh khắm, màu trắng hoặc vàng; 87,35% mệt mỏi, ủ rũ, lười vận động; 71,26% lông xù; 67,82% giảm ăn/bỏ bú; 60,34% mắt lõm sâu; 51,72% niêm mạc nhợt nhạt và khô ráp.
  • Tỷ lệ chết do tiêu chảy: Tổng số lợn chết do tiêu chảy là 10 con trên 174 con mắc (tỷ lệ chết chung 5,74%). Tỷ lệ chết tập trung cao nhất ở giai đoạn 7 – 14 ngày tuổi với 7,46% (5/67 con), giai đoạn 14 – 21 ngày tuổi là 5,17% (3/58 con) và giai đoạn 1 – 7 ngày tuổi là 4,08% (2/49 con). Tác giả lý giải tỷ lệ chết chịu ảnh hưởng thứ phát từ tiền sử trang trại từng xảy ra dịch tiêu chảy cấp PED (Porcine Epidemic Diarrhoea) trong giai đoạn tháng 9/2015 – 2/2016.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về đặc điểm phân bố bệnh theo tháng, độ tuổi, triệu chứng bệnh lý và đề xuất quy trình kỹ thuật chăn nuôi thú y đồng bộ nhằm khống chế hội chứng tiêu chảy tại cơ sở.


Kết quả và đóng góp thực tiễn

Tổng hợp số liệu dịch tễ học và lâm sàng

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu nghiên cứu chính về hội chứng tiêu chảy được tác giả khảo sát trực tiếp tại trại Thành – Thúy từ tháng 6/2016 đến tháng 11/2016:

Chỉ tiêu phân loại Phân nhóm theo dõi Số lượng theo dõi Số lượng mắc bệnh Tỷ lệ mắc (%) Số lượng chết (con) Tỷ lệ chết (%)
Theo tháng điều tra Tháng 6/2016 115 con (10 đàn) 32 con (5 đàn) 27,82% (50,00% đàn) - -
Tháng 7/2016 118 con (10 đàn) 30 con (4 đàn) 25,42% (40,00% đàn) - -
Tháng 8/2016 125 con (12 đàn) 30 con (4 đàn) 24,00% (33,33% đàn) - -
Tháng 9/2016 127 con (12 đàn) 31 con (4 đàn) 22,40% (33,33% đàn) - -
Tháng 10/2016 118 con (10 đàn) 25 con (3 đàn) 21,18% (30,00% đàn) - -
Tháng 11/2016 115 con (10 đàn) 24 con (3 đàn) 20,86% (30,00% đàn) - -
Tính chung theo thời gian Toàn đợt 718 con (62 đàn) 174 con (23 đàn) 24,23% (37,09% đàn) 10 5,74%
Theo lứa tuổi 1 – 7 ngày tuổi 247 con 49 con 19,84% 2 4,08%
7 – 14 ngày tuổi 240 con 67 con 27,92% 5 7,46%
14 – 21 ngày tuổi 231 con 58 con 25,10% 3 5,17%
Theo tính biệt Lợn đực 365 con 90 con 24,66% - -
Lợn cái 353 con 84 con 23,79% - -

Tỷ lệ biểu hiện các triệu chứng lâm sàng trên đàn lợn mắc bệnh ($n = 174$ con):

  1. Phân loãng, mùi tanh khắm, màu trắng/vàng: 174 con (100,00%).
  2. Mệt mỏi, ủ rũ, lười vận động: 152 con (87,35%).
  3. Lông xù: 124 con (71,26%).
  4. Giảm ăn, bỏ ăn/bỏ bú: 118 con (67,82%).
  5. Mắt lõm sâu: 105 con (60,34%).
  6. Niêm mạc nhợt nhạt, khô: 90 con (51,72%).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Nguyên tắc "3 nên, 3 chống": Nên cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ ngay sau sinh, nên chăm sóc nái trước khi đẻ chu đáo, nên tập ăn sớm cho lợn con (từ 4 – 6 ngày tuổi bằng cám CP 951); Chống ẩm ướt chuồng nuôi, chống bẩn và chống lạnh đột ngột.
  • Vệ sinh an toàn sinh học: Định kỳ tiêu độc chuồng trại bằng Omnicide (pha tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước, phun 2 lần/ngày); ngâm tấm đan chuồng đẻ trong dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, cọ rửa, phơi khô; xịt khung chuồng bằng nước vôi xút và rắc vôi bột dưới gầm chuồng trước khi chuyển lợn mới vào.
  • Can thiệp điều trị tổng hợp: Khi lợn mắc bệnh, kết hợp sử dụng kháng sinh (Nova-amcoli hoặc Nor-100) với men vi sinh đường ruột (Bidisubtilis, Subcolac), bù nước và điện giải qua dung dịch uống Oresol hoặc truyền xoang bụng dung dịch nước muối sinh lý NS ($10 - 15 \text{ ml/con}$), bổ sung Vitamin B-complex để phục hồi thể trạng.

Đóng góp của khóa luận

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng về tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết do HCTC trên giống lợn ngoại Landrace – Yorkshire nuôi tại vùng bán sơn địa tỉnh Hòa Bình.
  • Xác định rõ quy luật dịch tễ: bệnh bùng phát mạnh vào mùa hè nóng ẩm (tháng 6, 7) và lứa tuổi mẫn cảm nhất là tuần tuổi thứ hai (7 – 14 ngày tuổi) do suy giảm kháng thể thụ động từ sữa mẹ kết hợp giai đoạn đầu tập ăn cám.
  • Chứng minh bằng số liệu thực địa tính độc lập giữa nguy cơ mắc bệnh và yếu tố tính biệt của lợn con.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Không gian nghiên cứu giới hạn tại một cơ sở chăn nuôi đơn lẻ (Trại lợn nái Phan Tấn Thành, Kỳ Sơn, Hòa Bình), chưa khảo sát so sánh mở rộng trên các quy mô nông hộ hoặc trang trại khác trong khu vực.
    • Thời gian nghiên cứu diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2016), do đó chưa bao quát được toàn bộ biến động dịch tễ của giai đoạn chuyển mùa Đông – Xuân (thời điểm thời tiết rét buốt, ẩm độ cao tại miền Bắc).
    • Đề tài dừng lại ở mức độ chẩn đoán lâm sàng và thống kê dịch tễ học thực địa; chưa thực hiện nuôi cấy phân lập xác định cụ thể các chủng vi khuẩn (E. coli, Salmonella, Clostridium), chưa giám định các serotype kháng nguyên hoặc làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Thực hiện lấy mẫu phân lập định danh vi sinh vật và kiểm tra độ nhạy cảm của các chủng vi khuẩn với kháng sinh (kháng sinh đồ) định kỳ tại trại.
    • Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu lực của vắc xin phòng tiêu chảy cấp (PED) và chế phẩm kháng thể lòng đỏ trứng gà trên đàn nái mang thai nhằm nâng cao miễn dịch thụ động cho lợn con.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y: Cung cấp phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa, biểu mẫu theo dõi lâm sàng, công thức tính toán chỉ tiêu dịch tễ học và quy trình xử lý số liệu bằng thống kê sinh học.
  • Kỹ thuật viên và chủ trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản: Tham khảo quy trình kỹ thuật chăm sóc nái chửa, nái đẻ, quy trình đỡ đẻ, bấm nanh, cắt đuôi, tiêm sắt, lịch trình tiêm phòng vắc xin tổng đàn (PRRS, Dịch tả, LMLM, Giả dại, Khô thai) và quy trình sát trùng chuồng đẻ công nghiệp bằng dung dịch xút và Omnicide.
  • Cán bộ nghiên cứu bệnh học thú y: Cung cấp số liệu đối sánh thực tế về biến động tỷ lệ mắc HCTC theo tháng và lứa tuổi lợn con tại địa bàn miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại Thành – Thúy là bao nhiêu theo đàn và theo cá thể?

Theo số liệu theo dõi từ tháng 6/2016 đến tháng 11/2016 trên 718 lợn con thuộc 62 đàn, tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy theo đàn là 37,09% (23/62 đàn) và tỷ lệ mắc theo cá thể là 24,23% (174/718 con). Tỷ lệ mắc cao nhất vào tháng 6 (50,00% theo đàn; 27,82% theo cá thể) và thấp nhất vào tháng 11 (30,00% theo đàn; 20,86% theo cá thể).

2. Lứa tuổi nào của lợn con mẫn cảm nhất với bệnh và có tỷ lệ chết cao nhất?

Lợn con ở lứa tuổi từ 7 đến 14 ngày tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (27,92%) và tỷ lệ chết cao nhất (7,46%). Nguyên nhân do lượng kháng thể thụ động nhận từ sữa đầu của lợn mẹ đã giảm mạnh trong khi hệ thống miễn dịch tự thân chưa hoàn thiện, kết hợp với việc lợn con bắt đầu tập ăn gây rối loạn tiêu hóa và nhu cầu sắt tăng cao.

3. Yếu tố tính biệt có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con không?

Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố tính biệt không tạo ra sự chênh lệch rõ rệt. Tỷ lệ mắc bệnh ở lợn đực là 24,66% (90/365 con) và ở lợn cái là 23,79% (84/353 con).

4. Những triệu chứng lâm sàng nào xuất hiện với tần suất cao nhất ở lợn con mắc bệnh?

Triệu chứng xuất hiện ở 100% lợn mắc bệnh ($n=174$) là phân loãng, có mùi tanh khắm, màu trắng hoặc vàng. Tiếp theo là trạng thái mệt mỏi, ủ rũ, lười vận động (87,35%), lông xù (71,26%), giảm ăn hoặc bỏ bú (67,82%) và mắt lõm sâu do mất nước (60,34%).

5. Khóa luận sử dụng các phác đồ kháng sinh nào để thử nghiệm điều trị hội chứng tiêu chảy?

Khóa luận thiết kế 2 phác đồ điều trị phân lô so sánh gồm: Phác đồ 1 sử dụng Nor-100 (hoạt chất Norfloxacin 10%, tiêm bắp $1 \text{ ml}/15 \text{ kg TT/ngày}$, liên tục 3 – 5 ngày) kết hợp Vitamin B-complex; Phác đồ 2 sử dụng Nova-amcoli (hoạt chất Ampicillin trihydrate và Colistin sulfate, tiêm bắp $1 \text{ ml}/10 \text{ kg TT/ngày}$, liên tục 3 – 5 ngày) kết hợp Vitamin B-complex.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Hữu Tùng đã phản ánh toàn diện tình hình dịch tễ học của hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con giai đoạn sơ sinh đến cai sữa tại trại lợn nái ngoại Phan Tấn Thành, Kỳ Sơn, Hòa Bình với tỷ lệ mắc trung bình là 24,23% và tỷ lệ chết là 5,74%. Nghiên cứu chỉ ra quy luật phát sinh bệnh phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện vi khí hậu (tháng 6, 7 có tỷ lệ mắc cao nhất) và giai đoạn sinh lý (tuần tuổi thứ hai có nguy cơ mắc và tử vong cao nhất). Đồng thời, tác giả đã hệ thống hóa các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, quy trình vệ sinh sát trùng chuồng đẻ và phác đồ can thiệp dược lý, tạo cơ sở thực tiễn hữu ích cho công tác kiểm soát dịch bệnh đường tiêu hóa ở lợn con trong chăn nuôi công nghiệp.