CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THỦ DẦU MỘT VÀ KHÁI NIỆM VỀ TRÍ THỨC. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Thủ Dầu Một. Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Thủ Dầu Một. Đông Nam Bộ một vùng đất rộng lớn nổi tiếng với nhiều vùng căn cứ cách mạng (vùng bắc Tây Ninh, chiến khu Đ, Củ Chi…), cái nôi của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ.
Về vị trí địa lý, tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh về mạn nam và tây nam, tỉnh Bình Phước về phía bắc, tỉnh Tây Ninh về phía tây, tỉnh Đồng Nai về phía tây và nối sườn phía nam của dãy Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng này đã giúp Bình Dương trở thành một vùng đệm không thể thay thế nằm trên hành lang nối Sài Gòn với các tỉnh miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ1 Bình Dương là mảnh đất chứa đựng nhiều giá trị văn hóa truyền thống như các ngôi chùa (Hội Khánh, Tây Tạng.) và còn nổi tiếng với các khu di tích lịch sử dân tộc (nhà tù Phú Lợi, chiến khu Đ. Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương địa bàn tương đối rộng lớn và hoang vu, trải qua nhiều giao đoạn biến động theo chiều dài lịch sử phát triển vùng đất Đông Nam Bộ (Bình Dương). Từ rất sớm, chúa Nguyễn đã ý thức việc mở rộng lãnh thổ thông qua hoạt động khẩn hoang và khai phá vùng đất phía Nam.
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu (Tộ Minh Vương, 1691-1725) “sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên 1 Hồ Sơn Đài (chủ biên) (2010), Lịch sử Lực lượng Vũ trang Nhân dân tỉnh Bình Dương (1945 – 2005), Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr. Trang 18 Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975) (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay)” 1 và thiết lập các đơn vị hành chính. Địa phận tỉnh Bình Dương hiện nay tương ứng với tổng Bình An, tỉnh Biên Hòa.
Nhờ có vị trí thuận lợi, đất đai màu mỡ nên xứ Đàng Trong (trong đó có Bình Dương ngày nay) thu hút nhiều cư dân sinh sống và lập nghiệp. Trải qua nhiều biến động trong lịch sử đấu tranh để gìn giữ và phát huy những giá trị của miền đất mới, mảnh đất Bình Dương luôn không ngừng phát triển và có thay đổi về nhiều mặt (vị trí hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục.) Nằm trong kế hoạch cải cách các đơn vị hành chính trên toàn quốc, Minh Mệnh đã chia vùng Gia Định Thành thành 6 tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh)2. Năm 1837, huyện Bình An chia ra hai huyện Bình An (Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức). Đều này giúp ta chứng minh rằng Thủ Dầu Một là tên gọi cũ của tỉnh Bình Dương trước năm 1956.
Sau khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng xâm lược nước ta (rạng sáng 1-9-1858) tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Tuy nhiên, địch vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của ta và kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” đã bị thất bại. Giữa lúc phong trào kháng Pháp ngày càng dâng cao và tạo cho ta ưu thế rõ rệt thì triều đình Huế lại ký Hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), với điều khoản thứ 3 là nhượng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) cho thực dân Pháp. Theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22-10-1956 của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Nam Phần (tức Nam Bộ) được phân thành bao gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh.
Trong đó, Thủ Dầu Một trực thuộc Biên Hòa. Trải qua thăng trầm của lịch sử, vùng đất Bình Dương đã có nhiều giai đoạn phân tách và hợp nhất các đơn vị hành chính. Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), căn cứ theo Quyết 1 Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Viện Sử học dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.
2 “Lục tỉnh” (6 tỉnh) hay “Nam Kỳ lục tỉnh” chỉ chung toàn bộ khu vực Nam Bộ thời Nguyễn là cách gọi xuất hiện từ sau việc thiết lập 6 tỉnh năm 1832 này. Trang 19 Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975) định ngày 2-7-1976 tại kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa VI của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Sông Bé được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Bình Phước. Kể từ ngày 1-1-1997, tỉnh Bình Dương được chính thức thành lập trên cơ sở là một trong hai tỉnh được tách ra từ tỉnh Sông Bé (tỉnh còn lại là tỉnh Bình Phước)1. Trải qua hai cuộc kháng chiến (chống Pháp và chống Mĩ) ròng rã, Thủ Dầu Một ngày càng khẳng định vai trò quan trọng góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ngay từ khi xâm lược Việt Nam thực dân Pháp chọn Thủ Dầu Một làm trụ sở và đặt trụ sở hành chánh tại Thủ Dầu Một (hạt tham biện Thủ Dầu Một) vì nơi đây địa bàn rộng lớn luyện tập quân lính kịp thời chi viện cho chiến trường Đông Nam Bộ. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương liên tiếp nổ ra các cuộc đấu tranh chống chính quyền thực dân Pháp tạo ra các tầng lớp lao động mới như công nhân cao su, công nhân xe lửa bị áp bức nặng nề sức lao động điều kiện sống khắc nghiệt. Bình Dương ban đầu một vùng đất nhiều cánh rừng già, đầm lầy nhiều thú dữ chính những cư dân ta đã khai phá tạo dựng xóm làng thực dân Pháp đã tàn phá những giá trị vật chất lẫn tinh thần, họ đã đứng lên lôi kéo các tầng lớp khác như học sinh, sinh viên,. đấu tranh chống lại chính sách cai trị của thực dân Pháp2.
Bối cảnh xã hội trước năm 1954. Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng nhanh chóng triển khai các chiến lược nhằm mục đích biến Việt Nam thành thuộc địa. Miền Đông Nam Bộ đã nhanh chóng trở thành thuộc địa của Pháp sau hai bản hiệp định Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874) mà triều đình Nguyễn đã ký với thực dân Pháp. Với “thắng lợi” này, thực 1 Hồ Sơn Đài (chủ biên) (2010), Lịch sử Lực lượng Vũ trang Nhân dân tỉnh Bình Dương (1945 – 2005), Sđd, tr.
2 Phan Xuân Biên (chủ biên) (2010), Địa chí Bình Dương, tập 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội. Trang 20 Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975) dân Pháp đã thi hành các biện pháp hà khắc nhằm kìm hãm sự phát triển của các phong trào đấu tranh từ các tầng lớp yêu nước trong xã hội. Tỉnh Bình Dương (Thủ Dầu Một) - nơi luôn sôi sục tinh thần đấu tranh chủ yếu tập trung vào lực lượng công nhân đồn điền, những bước đầu hình thành trong chính lòng địch gia cấp công nhân trở thành lực lượng nòng cốt lãnh đạo cuộc kháng chiến thành công 1. Giai đoạn trước năm 1954, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, tình hình trong nước diễn biến vô cùng phức tạp.
Mục đích của thực dân Pháp là vơ vét cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn công nhân rẻ mạt tại thuộc địa với thị trường tiêu thụ rộng lớn. Trong chiến tranh thế giới thứ I (1914 – 1918) Pháp là nước thắng trận nhưng phải chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Để nhanh chóng hàn gắn các vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế tại chính quốc, Pháp phải tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa (Việt Nam). Nhưng song đó chính sách của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biến động.
Cùng với sự ra đời của nhiều tầng lớp như công nhân và tiểu tư sản,. thì tầng lớp trí thức cũng là lực lượng đấu tranh ngoài mặt trận và ngay trong lòng địch. Tầng lớp trí thức mới ra đời nhưng là lực lượng nòng cốt cho cách mạng, góp phần tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc. Đứng trước tình hình khó khăn của cách mạng trong nước, ngày 28/1/1941 Nguyễn Ái Quốc trở về nước nhằm đưa ra đường lối lãnh đạo cho cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc đã học tập theo con đường Cách mạng Tháng mười Nga (tiếp thu tư tưởng Mác –Lênin) và áp dụng vào tình hình thực tế ở Việt Nam. Chính Nguyễn Ái Quốc đã góp phần hình thành một giai cấp công nhân mới ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã soi sáng con đường cách mạng đang dần bước vào bế tắc, thức tỉnh, giác ngộ mọi tầng lớp nhân dân ta đứng lên đấu tranh 1 Đinh Xuân Lâm (chủ biên)(2008), Đại cương lịch sử Việt Nam tập III , Nxb Giáo dục. Trang 21 Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975) chống ách áp bức của thực dân Pháp và phong kiến tồn tại dai dẳng ở nước ta.
Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản đã diễn ra và nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930). Từ đó cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” 1. Đảng Cộng sản ra đời đã cổ vũ tinh thẩn đấu tranh của quân và nhân dân ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa tan hai tầng xiềng xích (Pháp - Nhật). Bên cạnh đó, thắng lợi còn khẳng định cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh và phát triển qua việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa các mạng thể hiện tinh thần đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân. Đó là những bước chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa sau này. Ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng là hậu phương vững chắc cho cách mạng lâu dài ở miền Nam. Trong giai đoạn quan trọng đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng thì chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi (1954) đánh bại thực dân Pháp đã tạo ra bước ngoặc trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta trước một cường quốc trên thế giới. Tình hình thế giới trong giai đoạn này xảy ra nhiều sự kiện quan trọng. Cách mạng tháng mười Nga (1917) thành công đã cổ vũ cho phong trào đấu tranh của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.