mở đầu cho việc triển khai chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Quân đội Mỹ phối hợp với quân đội Sài Gòn đã tiến hành nhiều cuộc tiến công “tìm diệt” và “bình định” ở quanh các nơi chiếm đóng và ráo riết thực hiện phương châm “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”. Từ đầu năm 1965, phong trào cách mạng QN-ĐN được củng cố và từng bước phát triển. Song song với phong trào của đoàn viên, thanh niên ở nông thôn là “Năm xung phong” thì ở thành phố các cấp bộ Đoàn đã phát động phong trào “Xếp bút nghiên” ra căn cứ làm cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương và Khu Đoàn 5, Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp thanh niên các cấp đã liên tục tiến hành nhiều biện pháp giáo dục cho tuổi trẻ toàn tỉnh tư tưởng “Không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết đánh thắng Mỹ”. Quyết tâm này đã trở thành hành động cụ thể của tuổi trẻ QN-ĐN lúc này. Ngày 16-7-1965, máy bay Mỹ ném bom xuống trường tiểu học Mân Quang làm 45 học sinh chết. Bức xúc trước tội ác này, nhân dân Hòa Vang đã tham gia đấu tranh đưa xác các em tiến thẳng về Đà Nẵng, bao quanh tòa thị chính, hô vang các khẩu hiệu lên lên án tội ác của Mỹ, đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, bồi thường thiệt hại… Phong trào học sinh, sinh viên ở QN-ĐN trong giai đoạn này đã chứng tỏ rằng phong trào không ngừng phát triển từ thấp đến cao, càng về sau càng quyết liệt.
Tiêu biểu là sự kiện học sinh, sinh viên góp phần làm chủ Đà Nẵng trong 9 Luan van 22 ngày đêm trong phong trào đấu tranh phản đối “Hiến chương Vũng Tàu” năm 1964. Thông qua phong trào, ý thức dân tộc đã không ngừng được nâng lên, sự giác ngộ chính trị cũng ngày được nâng cao. Giai đoạn 1966-1968 Bước sang năm 1966, tình hình chiến trường ở QN-ĐN chuyển sang một giai đoạn mới ác liệt hơn. Sự có mặt của quân đội Mỹ và tội ác do chúng gây ra làm cho mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trở nên sâu sắc hơn.
Phong trào đấu tranh của nhân dân chỉ chờ cơ hội bùng nổ. Việc Mỹ cách chức Nguyễn Chánh Thi đã gây sự phẫn nộ trong sĩ quan, binh lính Vùng I chiến thuật và các lực lượng đối lập với Thiệu - Kỳ, nhất là Phật giáo, là cái cớ để phát động phong trào đấu tranh chống Mỹ - Thiệu -Kỳ. Nhân cơ hội nổi dậy của quần chúng, cơ sở cách mạng ở Đà Nẵng đã cử anh Vĩnh Kha - Chủ tịch Tổng Hội sinh viên, học sinh cùng một số thanh niên là cơ sở của ta tham gia vào các tổ chức thanh niên, học sinh, Phật tử… để hướng các hoạt động đấu tranh theo chủ trương của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại thị xã Hội An, ngày 12-3-1966, lực lượng học sinh đã dùng xe Jeep của Ty Điền Địa Quảng Nam, có biểu ngữ và máy phóng thanh, chạy khắp các ngã đường kêu gọi nhân dân thị xã tham gia đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ.
Tại Tam Kỳ, chiều ngày 13-3-1966, dưới sự chỉ đạo của “Ủy ban quân dân Vùng I chiến thuật”, lực lượng quần chúng gồm Phật tử, thanh niên, giáo viên, học sinh các trường trung học đã chiếm Ty Thông tin Quảng Tín, lấy nơi đây làm trụ sở và dùng xe phóng thanh của cơ quan này chạy khắp các ngả đường để kêu gọi nhân dân tham gia đấu tranh bài trừ tham nhũng, ủng hộ Nguyễn Chánh Thi. Cùng ngày này tại Đà Nẵng, lực lượng thanh niên học sinh đã ra lời kêu gọi truyền đi khắp thành phố, kêu gọi đồng bào vùng dậy đấu tranh lật đổ ngụy quyền tay sai, đòi hòa bình, độc lập. Tất cả các học sinh ở các trường trung học đều bãi khóa xuống đường cùng với phong trào quần chúng đình công, bãi chợ. Luan van 23 Ngày 15-3-1966, Tổng Hội sinh viên và Đoàn sinh viên Phật tử Huế cử đại diện vào Đà Nẵng để phối hợp và hỗ trợ phong trào đấu tranh.
Ngày 18-3-1966, tại hội trường Trưng Vương, lực lượng này đã cùng với thanh niên, sinh viên và Phật tử Đà Nẵng tổ chức hội thảo bàn về “tác hại của đồng đô la” và “vấn đề cướp nước, bán nước”, lên án sự xâm lược của Thiệu - Kỳ. Phong trào đấu tranh ở QN- ĐN nhờ đó được kích thích và phát triển mạnh mẽ. Ngày 24-3-1966, đại đội thanh niên học sinh “bài trừ gian thương” ra đời. Đà Nẵng đặt trong tình trạng khẩn trương.
Các tổ chức học sinh biệt động thành, tổ học sinh cảm tử, đội tự vệ thanh niên công nhân và thanh niên học sinh vũ trang phát huy tác dụng xung kích hoạt động trên tất cả các lĩnh vực đấu tranh trong phong trào quần chúng. Từ cuối tháng 3, phong trào chuyển sang một bước phát triển mới, cả Đà Nẵng vùng lên đã làm tê liệt mọi hoạt động của địch trong thành phố. Học sinh, sinh viên tổng bãi khóa, thanh niên công nhân tổng đình công… làm cho chính quyền hết sức lúng túng. Ngày 02-04-1966, tại Đà Nẵng, công nhân và công chức đình công, bãi thị, học sinh bãi khóa.
Dự đoán chính quyền Sài Gòn sẽ đàn áp phong trào, tại Tam Kỳ, Quốc dân đảng lôi kéo một bộ phận thanh niên, học sinh để thành lập “Ban đại diện học sinh liên trường Quảng Tín” và rải truyền đơn phản đối các cuộc đấu tranh của “Lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng”. Ngày 2-4-1966, tại Hội An, học sinh các trường trung học và tiểu học tiếp tục bãi khóa để tham gia cuộc mít tinh tại chùa Tỉnh hội Phật giáo. Ngày 04-04, Thiệu - Kỳ đã đưa quân từ Sài Gòn ra để đàn áp phong trào, nhưng trước làn sóng đấu tranh của “lực lượng thanh niên tranh thủ cách mạng” chống trả quyết liệt buộc chúng phải rút về. Phản ứng trước việc Thiệu-Kỳ đưa quân ra đàn áp ở Đà Nẵng, Tổng hội sinh viên Huế thành lập “Đoàn sinh viên quyết tử” (5-4) gồm 500 người và sau đó cử một bộ phận vào chi viện Đà Nẵng và Tam Kỳ.
Ngày 13-4-1966, một đơn vị khoảng 200 người của Tổng hội sinh viên và Đoàn sinh viên quyết tử của Huế có vũ trang tiến vào Tam Kỳ. Lực lượng này cùng thanh niên, học sinh, Phật tử Tam Kỳ Luan van 24 tấn công mạnh vào bọn phản động làm cho Tỉnh trưởng Quảng Tín Nguyễn Thành Toại buộc phải xin từ chức. Cùng với các tầng lớp, giai cấp, thành phần khác nhau trong xã hội, lực lượng HSSV đã tham gia vào cuộc nổi dậy làm chủ thành phố Đà Nẵng trong 76 ngày đêm (10/3 – 24/5/1966). Tuy không giành được thắng lợi trọn vẹn, nhưng xuyên suốt phong trào đã cho thấy được tinh thần đòi độc lập và dân chủ.
Phong trào thực sự là một cuộc nổi dậy có quy mô lớn, đã chứng tỏ được sự liên kết hành động của nhân dân Đà Nẵng với các đô thị miền Nam, trong đó có cả lực lượng HSSV. Ngày 3-9-1967, Thiệu - Kỳ tổ chức bầu cử Tổng thống và Thượng nghị viện để hợp thức hóa việc cầm quyền của chúng. Nhân dân toàn thành phố đã xuống đường đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Ngày 5-9-1967, “Lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ” kêu gọi nhân dân thành phố xuống đường lên án cuộc bầu cử gian lận của Thiệu - Kỳ, không thừa nhận kết quả và đòi xóa bỏ cuộc bầu cử này.
Nhìn chung, giai đoạn 1966-1968, phong trào HSSV diễn ra rộng khắp ở các đô thị QN - ĐN và được duy trì trong mọi điều kiện. Trong giai đoạn này phong trào đã thể hiện được tinh thần xung kích, đi đầu, luôn có mặt ở mọi nơi, những lúc khó khăn nhất của lực lượng học sinh, sinh viên. Lực lượng học sinh, sinh viên đã cùng các tầng lớp nhân dân QN-ĐN đạt đến đỉnh cao trong sự kiện 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng (1966), gây tiếng vang trong cả nước và được báo chí đưa tin. Tóm lại, phong trào học sinh, sinh viên ở QN - ĐN trước năm 1969 diễn ra liên tục, mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú.
Phong trào ở các giai đoạn sau phát triển trên một bước cao hơn so với giai đoạn trước. Giai đoạn 1954-1968, phong trào đi từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố, đòi bình đẳng tôn giáo, … dần đi đến tấn công trực diện kẻ thù. Phong trào đã góp phần cùng với các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân lật đổ nền “Đệ nhất cộng hòa” của Ngô Đình Diệm, làm cho ngụy quyền ở các đô thị-nơi tưởng chừng như là hậu Luan van 25 phương vững chắc nhất của Mỹ và chính quyền tay sai trở nên rối loạn, khủng hoảng ngay từ bên trong. Nhận định về phong trào, Tỉnh ủy Quảng Nam đã có nhận xét: “Trong những năm gần đây, phong trào của Đoàn thanh niên có nhiều tiến bộ, nhất là tư tưởng và tổ chức”[2, tr.
Chương 2: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA HỌC SINH, SNH VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN 1969 – 1975 Ở QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 2. Chính sách thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969 - 1975 Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân là cột mốc đánh dấu sự thất bại của “chiến tranh cục bộ”, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ. Sau khi trúng cử Tổng thống, chính thức bước chân vào Nhà Trắng (20-1-1969), Nich-xơn và những người cầm quyền nước Mỹ nhận thấy những thất bại liên tiếp của Mỹ trên thế giới, nhất là ở Việt Nam đã và đang làm biến đổi cán cân trên thế giới không có lợi cho Mỹ. Vì vậy, Mỹ chủ trương điều chỉnh chiến lược hòng tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu và duy trì thống trị ở miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới.
Đế quốc Mỹ đề ra chiến lược toàn cầu mới mang tên “Học thuyết Ních xơn” và chiến lược quân sự “răn đe thực tế” thay cho chiến lược “phản ứng linh hoạt” đã bị phá sản. “Học thuyết Ních xơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và Đông Dương, học thuyết này được vận dụng cụ thể trong những chiến lược chiến tranh của từng nước. Ở Việt Nam, “học thuyết Ních xơn” được cụ thể hóa bằng chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh. Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Giônxơn với mục đích rút dần quân Mỹ về nước, tránh những Luan van 26 tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ.