Chương I: Bối cảnh lịch sử của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ từ năm 1947 đến nay Chương II: Những nội dung chính của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ từ năm 1947 đến nay Chương III: Đánh giá thành tựu, hạn chế của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ từ năm 1947 đến nay 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO NỮ QUYỀN TẠI ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1947 ĐẾN NAY Quyền phụ nữ, cách gọi khác là quyền nữ giới hay nữ quyền, là các quyền lợi bình đẳng giới được dành cho phụ nữ và trẻ em gái ở nhiều nơi trên thế giới. Quan điểm bình đẳng giới có lẽ đã xuất hiện từ thời xa xưa khi người La Mã cổ đại sử dụng hình ảnh hai bàn tay siết chặt để nói về hôn nhân, hình tượng hóa hôn nhân như là sự đồng hành của hai người bạn đời – họ cùng nhau làm việc, sinh thành và nuôi dạy con cái, đảm đương công việc hàng ngày, sống cuộc đời gương mẫu, và tận hưởng tình yêu thương9. Tại một số nơi, nữ quyền được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác, chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế.
Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn về quyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em trai10. Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về nữ quyền bao gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bỏ phiếu (bầu cử), nắm giữ chức vụ công, làm việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng, tiếp nhận giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong hôn nhân và làm phụ huynh11. Nussbaum, (2002), The Incomplete Feminism of Musonius Rufus, Platonist, Stoic, and Roman, in The Sleep of Reason: Erotic Experience and Sexual Ethics in Ancient Greece and Rome, University of Chicago Press, trang 300., Towards a Definition of Women's Rights, in Human Rights Quarterly, Vol. (2006), Women's Rights, A "Human Rights Quarterly" Reader, Johns Hopkins University Press, ISBN 978-0-8018-8374-3.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì điều kiện thời gian và dung lượng của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi sẽ không đề cập tất cả những quyền trên mà sẽ chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất định và cũng chỉ đề cập đến những vấn đề nảy sinh tại Ấn Độ trong sự so sánh với nữ quyền trên thế giới nói chung ở một mức độ khiêm tốn. Trong chương này chúng tôi sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển của phong trào nữ quyền tại Ấn Độ, những yếu tố gây nên sự biến đổi của phong trào này từ giai đoạn 1947 đến nay, từ đó làm rõ bối cảnh lịch sử của phong trào, giải thích được xuất phát điểm, động lực và xu hướng phát triển mới của nó. Trước hết, cần phải thấy rằng sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ Ấn Độ năm 1947 là thời điểm bước ngoặt đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới của Ấn Độ, mở ra một chặng đường phát triển mới của Ấn Độ trong nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế cho đến những nền tảng văn hóa xã hội lâu đời khác. Cùng với những biến động to lớn này, phong trào nữ quyền ở Ấn Độ cũng có những động lực mới để phát triển.
Do đó nội dung chính của chương sẽ là phân tích những yếu tố tác động đến phong trào nữ quyền nảy sinh từ sau mốc thời gian quan trọng này. Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu ban đầu là đánh giá một cách toàn diện sự phát triển của phong trào nữ quyền từ năm 1947 đến nay, những nghiên cứu về tác động của bối cảnh lịch sử cũng không dừng lại ở thời điểm năm 1947 mà xuyên suốt cả một quá trình từ đầu thế kỷ XIX cho đến nay.1 Sơ lƣợc lịch sử phát triển của phong trào nữ quyền ở Ấn Độ Phong trào nữ quyền ở Ấn Độ hình thành và phát triển trong bối cảnh phụ nữ ở nước này chịu nhiều bất công bởi quan niệm bất bình đẳng giới vốn tồn tại dai dẳng, sâu sắc và không dễ gì xóa bỏ. Bất bình đẳng giới là hiện tượng đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử hình thành và phát triển của Ấn Độ xuất phát từ một trong những nguyên nhân chính là niềm tin tôn giáo. Sau khi ra đời chữ viết, chế độ phụ hệ bắt đầu được nêu trong Luật Manu.
Luật Manu được giới thiệu vào thế kỷ đầu tiên trước Công Nguyên. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuốn sách hệ thống lại những quy tắc và thực tế của đạo Bà La Môn cổ đại sau khi bị suy thoái kể từ thời kỳ Veda. Theo truyền thống đạo Bà La Môn, phụ nữ bị đặt ở vị trí thấp nhất trong xã hội. Vì thế người Bà La Môn sử dụng tôn giáo để xây dựng toàn bộ hệ thống tư tưởng của họ.
Thông qua tôn giáo, họ đã cố gắng điều khiển phụ nữ. Bị đặt trong tình huống này, người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và đau khổ. Họ không được đối xử tử tế và người Bà La Môn xếp họ vào tầng lớp thấp nhất trong xã hội.Truyền thống Bà La Môn phổ biến với xã hội những quan niệm kỳ thị phụ nữ bằng cách chỉ trích họ. Trong Kinh Veda (10-95-10) nói rằng: tình bạn của người nữ không bền lâu.
Bản chất của họ giống như con linh cẩu. Luật Manu miêu tả phụ nữ như là đồ trang sức, họ có những mong muốn dơ bẩn, nhiều sân hận, không tử tế, hiểm độc và đạo đức tồi. Trong Puranas nói rằng: “… giống như người đồ tể không thỏa mãn với việc sát hại không biết bao nhiêu động vật, cũng giống vậy phụ nữ có thể có nhiều người nam.” Các tư liệu Bà La Môn giáo ghi rằng họ thật sự căm ghét người nữ, gọi họ là kẻ cắp, thổ phỉ, hải tặc… Có tám phẩm chất của người phụ nữ, đó là: nói láo trắng trợn, cẩu thả, lừa dối, ngu xuẩn, tham lam, dơ bẩn, tinh quái và hấp tấp12. Trong Atharva Veda có đoạn kinh nói rằng: “thượng đế trao người vợ cho người chồng để họ phục vụ chồng và sinh con.
Hơn nữa cô ấy được quy là kẻ lệ thuộc và nô lệ” 13. Họ không có quyền theo dõi hay tham gia vào các hoạt động tôn giáo, không có quyền được đi học. Chức năng duy nhất của họ là sinh con và chăm sóc chồng con. Họ luôn phải sống theo các mệnh lệnh của đàn ông.
“Khi còn nhỏ, một bé gái phải nghe lời cha, trưởng thành phải tuân lệnh chồng, khi chồng mất, họ phải theo ý con trai, phụ nữ chẳng bao giờ độc lập.”14Theo Luật Manu, cách duy nhất để được lên trời là vâng lời chồng. “Phụ nữ không được phép 12 Sukra 3 – 163 13 Atharva Veda 14.01,52 14 Rig Veda, 10th zone, 90th Purusha Sῡktha 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế lễ, thệ nguyện, hay ăn chay (nếu người chồng không muốn): Chỉ cần người ấy vâng lệnh chồng, họ sẽ xứng đáng được lên thiên đàng”15. Sau khi giành được độc lập năm 1947 phụ nữ Ấn Độ giành được một số quyền nhất định nhưng địa vị của họ vẫn thấp hơn rất nhiều so với nam giới. Bản thân chính quyền vẫn lực bất tòng tâm trong việc thay đổi quan niệm và đặc biệt các hủ tục thâm căn cố đế bởi ảnh hưởng không gì sánh nổi của tôn giáo về vấn đề nữ quyền.
Theo kết quả điều tra của tập đoàn truyền thông đa quốc gia Thomson Reuters, Ấn Độ xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia trên thế giới nguy hiểm nhất đối với phụ nữ16. Ấn Độ cũng là quốc gia bị xếp hạng cuối trong khảo sát về điều kiện sống của phụ nữ tại 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới, với những tình trạng như: tảo hôn phổ biến, giết người vì không đáp ứng đủ của hồi môn, nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình, phụ nữ bị bóc lột sức lao động. 15 Luật Manu Tr. 155 16 "India is fourth most dangerous place in the world for women: Poll : Invisible India, News - India Today".
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ấn Độ xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia trên thế giới nguy hiểm nhất đối với phụ nữ. Nguồn: Tập đoàn truyền thông đa quốc gia Thomson Reuters, năm 2014. Bất bình đẳng giới ở Ấn Độ thể hiện trên nhiều phương diện trong đó có kinh tế, chính trị, y tế, giáo dục và địa vị trong gia đình.
Về kinh tế, phụ nữ Ấn Độ có thu nhập thấp và đóng góp vào kinh tế ít hơn nhiều so với đàn ông. Về địa vị trong gia đình, phụ nữ Ấn Độ vẫn là nạn nhân của nạn bạo hành gia đình, hỏa thiêu góa phụ và đòi của hồi môn. Những tập tục lạc hậu được nuôi dưỡng bới quan niệm coi thường phụ nữ, và ngược lại, sự phổ biến những tập tục này càng khiến cho địa vị của người phụ nữ trong gia đình Ấn Độ bị hạ thấp. Về chính trị, việc đấu tranh cho bình đẳng giới gặp khó khăn ngay từ cơ quan quyền lực nhất, khi mà số ghế của phụ nữ trong quốc hội ít hơn nhiều so với nam giới.
Bất bình đẳng giới ở Ấn Độ còn thể hiện trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là ở vùng nông thôn – nơi mà nữ giới luôn luôn ít học hơn so với nam giới. Giống như giáo dục, chất lượng y tế đối với nam giới cũng cao hơn so với nữ giới. Cuối cùng, một trong những hậu quả nặng nề nhất của bất bình đẳng giới ở Ấn Độ chính là nạn hiếp dâm – vấn nạn đang bị dấy lên hồi chuông báo động tại quốc gia này. Do giới hạn của chương này, những số liệu và phân tích cụ thể về từng phương diện bất bình đẳng giới sẽ được trình bày cụ thể và lồng ghép với nội dung các cuộc đấu tranh ở chương sau.
Tuy nhiên có thể khẳng định, bất chấp những nỗ lực của chính phủ, các tổ chức quốc tế và các nhà hoạt động nữ quyền, bất bình đẳng giới vẫn là một trong những vấn đề nan giải và để lại nhiều hệ lụy trong xã hội Ấn Độ. Đây là nguyên nhân khiến những cuộc đấu tranh giành nữ quyền ở Ấn Độ bùng nổ một cách mạnh mẽ.