phần mở đầu, phần tổng quan vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận án có kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về phòng ngừa các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng phòng ngừa các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chƣơng 3: Dự báo tình hình các tội phạm về mại dâm và các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 PHẦN TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về phòng ngừa các tội phạm về mại dâm 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Những công trình nghiên cứu lý luận về phòng ngừa tội phạm tạo nền tảng lý luận cho đề tài luận án Nghiên cứu sinh cho rằng, nếu xem xét tội phạm học với tƣ cách là hệ thống ngành khoa học gồm các đối tƣợng nghiên cứu khác nhau thì lý luận về phòng ngừa tội phạm chính là một bộ phận cấu thành đối tƣợng nghiên cứu trong đó. Luận án đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ tội phạm học, vì vậy những công trình nghiên cứu về những vấn đề lí luận của phòng ngừa tội phạm nói chung là cơ sở, nền tảng để nghiên cứu phòng ngừa các tội phạm về mại dâm một cách tốt nhất.
Trên thế giới, hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu lý luận về phòng ngừa tội phạm, điển hình là các nghiên cứu về vị trí của phòng ngừa tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Thứ nhất, về vị trí của phòng ngừa tội phạm: Các nhà khoa học xem phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tƣợng nghiên cứu) của tội phạm học. Do đó, trong nội hàm khái niệm tội phạm học có đề cập đến nội dung phòng ngừa tội phạm. Quan điểm này đƣợc thừa nhận trong khoa học về tội phạm học một số nƣớc (đặc biệt là Liên bang Nga).6 - Tác giả Can Ueda - Giáo sƣ, tiến sĩ luật học, Trƣờng Đại học Tổng hợp Ritsumeikan quan niệm: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống”.7 Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh và phát triển tội phạm; đồng thời, đƣa ra con số thống kê về một số đặc điểm nhân thân, các điều kiện cá nhân và xã hội của tội phạm nhƣ giới tính, lứa tuổi… Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình đô thị hóa xã hội, quá trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, sự di cƣ đã gây ra sự xáo trộn trong xã hội; gây ra sự mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội, hạn chế sự đoàn kết dân cƣ trong khu vực về phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.
Nhƣ vậy, nghiên cứu này của Can Ueda không chỉ đề cập đến vấn đề lí luận phòng ngừa tội phạm mà còn đề cập đến nguyên nhân của tội phạm trên thực tiễn tại Nhật. - Tác giả Goppinger Hans cho rằng: “Tội phạm học là ngành khoa học thực nghiệm, độc lập, nghiên cứu các sự việc diễn ra trong các lĩnh vực của đời sống cộng 6 David Brown, David Farrier, Neal, David Weisbrot (1996), Criminal Laws, Published in Sydney by the Federation Ress. 7 Can Ueda (1994), Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại (sách do Nguyễn Xuân Yêm và Hồ Trọng Ngũ biên dịch), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 đồng có liên quan đến tội phạm, hậu quả của hành vi tội phạm và việc ngăn ngừa các hành vi phạm tội cũng như quá trình đấu tranh chống lại những hành vi phạm tội”.8 Ngoài ra, tác giả phân tích một số đặc điểm nhân thân của tội phạm và hành vi phạm tội của tội phạm đƣợc xem nhƣ là hiện tƣợng xã hội và phân tích hành vi phạm tội cùng với một số nguyên nhân và điều kiện hoàn cảnh xã hội thúc đẩy tạo ra các hành vi phạm tội.
Theo xu hƣớng này, các quan điểm trong khoa học và sách báo pháp lý một số nƣớc đều thống nhất cho rằng: “phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm…” hay “không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng…”…9 Thứ hai, về các biện pháp phòng ngừa tội phạm: Phòng ngừa tội phạm đƣợc tiến hành bằng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, xuất phát từ nguyên nhân của tội phạm. Có thể phòng ngừa tội phạm bằng hình phạt, phòng ngừa tội phạm bằng các biện pháp làm thay đổi đặc điểm sinh học của ngƣời phạm tội, làm thay đổi môi trƣờng, bằng kiểm soát xã hội và kiểm soát cá nhân… Phòng ngừa tội phạm bằng hình phạt có thể kể đến các quan điểm sau: - Quan điểm của Beccaria nhấn mạnh và đề cao vai trò của hình phạt trong phòng ngừa tội phạm. Ông cho rằng hình phạt phải tƣơng xứng với mức độ nguy hiểm cúa tội phạm. Hình phạt cần phải căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội chứ không phải là con ngƣời phạm tội.
Hình phạt cần áp dụng nhanh chóng và bình đẳng. Bên cạnh đó, ông cho rằng, cách tốt nhất để phòng ngừa tội phạm là luật phải đƣợc quy định đơn giản và rõ ràng, khen thƣởng ngƣời có đạo đức tốt và cải thiện nền giáo dục. Đồng thời, cần phải cải thiện hệ thống tƣ pháp hình sự theo hƣớng hạn chế tính hà khắc và đẩy mạnh việc đối xử nhân đạo đối với tù nhân. Đồng thời, ông tỏ ra nghi ngờ về hiệu quả của hình phạt từ hình trong phòng ngừa tội phạm.10 - Quan điểm của Bentham cũng nhấn mạnh hình phạt áp dụng đối với ngƣời 8 Goppinger Hans (2008), Kriminologie, 6 Auflage, Verlag C.H Beck Muenchen, tr.
9 Tổng hợp từ David Brown, David Farrier, Neal, David Weisbrot (1996), Criminal Laws, Published in Sydney by the Federation Ress; Rob White, Fiona Haines (2000), Crime and Criminology: An introduction (Second Edition), Oxford University Press; L. Siegel (2001), Criminology: Theory, pattern and typologies, Printed in the United States of America. 10 Cesare Beccaria (2016), On crimes ang Punishments, Translation, Annotations and Introduction by Graeme R.Newman and Pietro Marongiu, Fifth Edition, Transaction Publishers. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 phạm tội là để phòng ngừa tội phạm.
Sự phòng ngừa là mục đích chủ yếu nhất của hình phạt. 11 - Quan điểm của Ferri về phòng ngừa tội phạm cho rằng, việc quy định hệ thống hình phạt trong luật hình sự là cần thiết để phòng ngừa tội phạm. Đặc biệt, ông nhấn mạnh các biện pháp phòng ngừa tội phạm để không cho tội phạm xảy ra có ý nghĩa hơn là trừng trị ngƣời phạm tội khi tội phạm đã xảy ra. Phòng ngừa tội phạm bằng các biện pháp xuất phát từ đặc điểm sinh học của ngƣời phạm tội cũng đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm.
Có thể kể đến nhƣ: - Quan điểm của Lombroso đối với việc phòng ngừa tội phạm bẩm sinh, ông cho rằng ngƣời phạm tội bẩm sinh nguy hiểm đối với xã hội nên cần hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa tác động đối với ngƣời phạm tội bằng cách biệt lập những ngƣời này ra khỏi xã hội mà không cần đợi đến lúc họ phạm tội. 12 - Quan điểm của các nhà tội phạm học ƣu sinh cho rằng cần phòng ngừa tội phạm bằng cách không để cho những đặc điểm của ngƣời phạm tội đƣợc di truyền sang thế hệ sau (cần triệt sản đối với ngƣời phạm tội). 13 Phòng ngừa tội phạm bằng kiểm soát xã hội và kiểm soát cá nhân có thể kể đến quan điểm của Reckless cho rằng: Để phòng ngừa tội phạm cần tiến hành ngăn chặn cả bên trong và bên ngoài. Ngăn chặn bên trong thể hiện thông qua khả năng của cá nhân tự quản lý bản thân, tự chấp hành những chuẩn mực đòi hỏi của xã hội.
Để ngăn chặn bên ngoài đòi hỏi sự chung tay của nhà nƣớc, xã hội, gia đình và cộng đồng dân cƣ để quản lý các cá nhân. Phòng ngừa tội phạm thông qua thiết kế môi trƣờng (CPTEU) của Jeffery: CPTED chủ trƣơng giải pháp thiết kế không gian đô thị, nhà cửa giảm thiểu cơ hội phạm tội trong đô thị và làm nhụt chí kẻ định phạm tội bằng cách cho thấy khả năng can thiệp của cộng đồng và việc môi trƣờng luôn đƣợc củng cố hiệu quả.14 Phòng ngừa tội phạm bằng 4 biện pháp cơ bản của Donald Perlgut: Ngăn chặn (hay gọi là phòng ngừa chung, phòng ngừa xã hội): nỗ lực ngăn chặn tội phạm bằng việc cải thiện các điều kiện xã hội có liên quan tới việc làm nảy sinh tội phạm; Trừng phạt: biện pháp này sử dụng công cụ pháp luật của các cơ quan bảo vệ pháp 11 Jeremy Bentham (1948), Introduction to the principles of Morals and Legislation, New York, Hafner Publishing Co. 12 Mary Gibson (2002), Born to Crime: Cesare Lombroso and the Origins of Biological Criminology, Edited by Spencer M. 13 Nicole Hahn Rafter (1997), Creating Born Criminals, University of Illinois Press.
Steverson (2021), Criminal Theory Profiles: Inside the Minds of Theorists of Crime and Deviance, Routledge Publisher. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các đối tƣợng có khả năng hoặc tiềm năng phạm tội, thông qua những tấm gƣơng đó mà tự răn đe và tự điều chỉnh hành vi. Công nghệ - kỹ thuật: đó là việc ứng dụng các sản phẩm an ninh, an toàn, các tiến bộ vào các nghiệp vụ ngân hàng nhƣ thanh toán, kiểm tra, kiểm toán, bảo mật, theo dõi, nhận dạng.
Môi trường: tạo ra cảnh quan, môi trƣờng bên trong và bên ngoài các cơ sở ngân hàng thuận lợi cho việc giám sát, quản lý và bảo vệ tài sản…15 Có thể nói, lý luận về phòng ngừa tội phạm đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu ở các góc độ nhƣ vị trí của phòng ngừa tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Tuy các quan điểm có khác nhau nhƣng các nhà khoa học đều có điểm chung khi nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm, đó là để xây dựng đƣợc các biện pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả cần phải căn cứ vào nguyên nhân của tội phạm.