CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Một số đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp có nhiều cách tiếp cận. Để cắt nghĩa được khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp thì trước tiên chúng ta cần bắt đầu từ khái niệm thu nhập.
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê có đưa ra nhận định như sau: “thu nhập có nghĩa là khoản của cải, tiền bạc thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định”. Về mặt pháp lý, thu nhập thường được hiểu là các khoản tiền, hiện vật hoặc hình thức lợi ích mang tính chất kinh tế khác nhau của các tổ chức, cá nhân nhận được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, từ lao động quyền sở hữu tài sản, quà tặng, quà biếu… hoặc các khoản thu nhập khác mà chủ thể ấy được nhận. Từ những cách hiểu khác nhau, chúng ta có thể nhìn nhận chung lại với ý nghĩa của thu nhập là tổng thể các nguồn thu của một cá nhân xác định trong một khoảng thời gian xác định. Tương tự như vậy, cũng có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Giáo trình Thuế của Học viện Tài chính đưa ra khái niệm như sau: “Thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế”. Theo Giáo trình Thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh vào cơ sở kinh doanh nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển”. Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng thuế khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn có những điểm nối cơ bản. Đầu tiên là mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước – đặc điểm chung của Thuế và các đặc điểm đặc trưng 7 của thuế thu nhập doanh nghiệp.
Do đó, có thể định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp là “loại thuế trực thu đánh vào cơ sở sản xuất, kinh doanh có thu nhập nhằm bảo đảm sự đóng góp công bằng hợp lý giữa các doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và tăng thu cho Ngân sách nhà nước”. Điểm khác biệt cơ bản nhất của thuế thu nhập doanh nghiệp so với thuế thu nhập cá nhân chính là chủ thể nộp thuế. Tức là chủ thể nộp thuế là tổ chức có thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứ không phải cá nhân độc lập tạo ra nguồn thu. Thuở ban đầu, pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) còn có đối tượng áp dụng bao gồm cả cá nhân có hành vi sản xuất, kinh doanh, cá nhân hành nghề độc lập hoặc có tài sản cho thuê.
Tuy nhiên, sau thời điểm 01/01/2009, những chủ thể này chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân1. Xét trên phạm vi áp dụng, tổ chức phải nộp thuế có thể là tổ chức Việt Nam (cho toàn bộ các khoản thu nhập của mình, không phụ thuộc vào việc thu nhập đó phát sinh trong nước hay ngoài nước) hoặc tổ chức nước ngoài (thu nhập phát sinh ở Việt Nam). Đặc trưng thứ hai của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế. Toàn bộ các khoản thu nhập, bao gồm thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập khác (như thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ, v.) đều được áp dụng.
Tuy nhiên, vẫn có một số khoản thu nhập được miễn thuế. Điều này đến từ mục đích khuyến khích để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội hoặc đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của nhà nước như: thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã; thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, v. 1 Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, tr.123 8 Với đặc trưng như phân tích ở trên, thuế thu nhập doanh nghiệp có những vai trò cơ bản sau đây: Thứ nhất, là công cụ mà nhà nước có thể sử dụng để thực hiện điều hành nền kinh tế. Trong nền kinh tế vĩ mô, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp được sử dụng như một công cụ để phân phối lại thu nhập đảm bảo công bằng xã hội.
Về bản chất là thu hẹp khoảng cách giàu nghèo do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trường hiện nay. Do đó, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, lợi nhuận thu được hàng năm càng cao sẽ đóng góp càng nhiều và trở thành nguồn thu quan trọng để đưa vào ngân sách nhà nước. Từ đó, Nhà nước có thể hoạch định những chính sách để đầu tư sản xuất, tái sản xuất tạo lập môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng hóa dịch vụ công cho mọi đối tượng. Thứ hai, là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước.
Xét trên đối tượng áp dụng thuế, ta có thể thấy rằng chúng có phạm vi vô cùng rộng. Nguyên nhân là bởi các chủ thể nộp thuế tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn. Cùng với đó, quy mô của các hoạt động kinh doanh này ngày càng được mở rộng, năng suất ngày càng cao. Từ đó, nguồn thu này ngày càng được nới rộng không ngừng theo đà tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, là một công cụ quan trọng để góp phần điều tiết, kích thích tiết kiệm đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo chiến lược, kế hoạch, của Nhà nước theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội. Để đảm bảo nhu cầu về phúc lợi xã hội, sự phân phối nguồn lực từ người có thu nhập cao đến người có thu nhập thấp là điều vô cùng cần thiết. Ngoài ra, chính sách công về thuế này cũng tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nước thông qua các chính sách miễn giảm thuế. Thứ tư, là nhân tố trung hòa tính lũy thoái của các loại thuế tiêu dùng.
9 Tính lũy thoái của các loại thuế tiêu dùng được giải thích đơn giản là việc người có thu nhập thấp sẽ phải bỏ ra toàn bộ thu nhập của mình trong khi người có thu nhập cao chỉ phải bỏ ra một phần thu nhập. Do vậy, thuế thu nhập (bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp) được thiết kế nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các chủ thể trong xã hội. Tổng kết lại, có thể thấy rằng thuế thu nhập doanh nghiệp có vị trí quan trọng và vai trò đặc biệt trong cả hệ thống thuế, hệ thống tài chính và xa hơn nữa là nền kinh tế vĩ mô. Điều đó càng cho thấy vấn đề phòng, chống gian lận thuế TNND là hết sức quan trọng và cần thiết.
Một số vấn đề cơ bản về gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp và phòng, chống gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp Gian lận thuế là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận. Từ điển mở investopedia giải thích rằng: “Gian lận thuế sẽ chỉ xảy ra khi cá nhân, tổ chức kinh doanh cố ý và cố ý làm sai lệch thông tin trên tờ khai thuế để hạn chế số thuế phải nộp. Gian lận thuế về cơ bản liên quan đến việc gian lận trên tờ khai thuế nhằm trốn tránh việc thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế. Ví dụ về gian lận thuế bao gồm yêu cầu khấu trừ sai; kê khai chi phí cá nhân như chi phí kinh doanh; thậm chí không báo cáo thu nhập”2.
Một số quan điểm có sự phân biệt giữa gian lận thuế và trốn thuế. Kay xác định bản chất của trốn thuế là “giấm diếm giao dịch hoặc che đậy bản chất giao dịch để tránh nghĩa vụ nộp thuế” còn gian lận thuế là “các giao dịch được công khai nhưng được sắp xếp sao cho kết quả giao dịch khác đi để tránh nghĩa vụ nộp thuế”3. Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Jame Alm và Jorge Martinez-Vazquezl xác định theo các yếu tố của gian lận thuế bao gồm “hành vi bất hợp pháp”, “cố ý” và “nhằm giảm khoản nộp thuế bằng báo cáo thu nhập, doanh số hoặc tài sản thấp hơn thực tế hay khai khống các khoản khấu trừ”; trốn thuế là “tìm cách cắt giảm nghĩa vụ thuế phải nộp bằng cách ách nhỏ 2 Từ điển đầu tư trực tuyến, https://www.com/terms/t/tax-fraud.Kay: "The anatomy of Tax avoidance. In Income Distribution: Limits to redistribution"; Proceedings of the 31st symposium of the Colstor Research Society.
University of Bristol. John Write and Sons Ltd, tr. 10 các khoản thu để xuống dưới ngưỡng tính thuế, hay tìm cách hoãn thuế”4. Với hai cách tiếp cận trên cho thấy sự thiếu nhất quán trong cách hiểu về gian lận thuế.
Theo người viết, hành vi gian lận thuế và hành vi trốn thuế đều có một mục đích chung, đó làm giảm số thuế phải nộp cho nhà nước bằng cách sử dụng thủ đoạn như che dấu, giả mạo chứng từ, giả mạo sự kiện pháp lý… do đó không cần thiết và cũng rất khó phân biệt một cách rạch ròi. Thông thường, trốn thuế chỉ được xem là một trường hợp cụ thể của gian lận thuế khi đã xác định được số thuế phải nộp nhưng chủ thể nộp thuế tìm mọi thủ đoạn để che dấu hoặc cố tình không nộp thuế. Tuy nhiên, có những trường hợp trốn thuế rất tinh vi, được “ngụy trang” thông qua các giao dịch hợp pháp hoặc bất hợp pháp thì cũng đều mang bản chất của việc gian lận thuế. Dưới góc độ luật học, hành vi gian lận thuế được xem xét theo các yếu tố chủ thể, đối tượng, động cơ và tính chất lỗi.
- Về chủ thể: là doanh nghiệp, tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh và có thu nhập phát sinh thuộc diện đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật.