Chương I: Giới thiệu. Chƣơng này giới thiệu khái quát về vấn đề nghiên cứu, bao gồm: mục tiêu, phạm vi, phƣơng pháp, đối tƣợng và ý nghĩa của nghiên cứu cùng với bố cục của đề tài. 7 Chương II: Tổng quan cơ sở lý thuyết. Đây là chƣơng trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, các khái niệm liên quan đến phong cách lãnh đạo lôi cuốn/thu hút và sự cam kết của nhân viên cũng nhƣ các thang đo sử dụng trong đề tài.
Trên cơ sở đó, xây dựng mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu. Chương III: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày chi tiết phƣơng pháp thực hiện nghiên cứu cũng nhƣ quá trình thu thập dữ liệu; điều chỉnh, kiểm định thang đo và cách thức xây dựng mẫu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu.
Chƣơng này trình bày chi tiết quá trình phân tích dữ liệu để kiểm định mô hình và các giả thuyết. Chương V: Kết luận và kiến nghị. Chƣơng này trình bày kết luận, thảo luận cũng nhƣ đánh giá lại các kết quả tìm đƣợc trong nghiên cứu và nêu một số kiến nghị nhằm tăng cƣờng sự cam kết của nhân viên thông qua phong cách lãnh đạo lôi cuốn cũng nhƣ các hƣớng nghiên cứu tiếp theo. TÓM TẮT CHƢƠNG I Chƣơng này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Theo đó, đề tài đƣợc hình thành dựa trên nhu cầu thực tế của hoạt động quản lý: duy trì đội ngũ nhân viên cam kết với mục tiêu của tổ chức. Vì vậy, mục tiêu của đề tài là nghiên cứu sự tác động của phong cách lãnh đạo lôi cuốn/thu hút đến sự cam kết của nhân viên, hỗ trợ các nhà lãnh đạo xây dựng và duy trì sự cam kết của nhân viên với tổ chức. Đề tài tập trung nghiên cứu ở các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của TP.Hồ Chí Minh. 8 CHƢƠNG II TỔNG QUAN CƠ SỞ L THUYẾT Chƣơng này giới thiệu các cơ sở lý thuyết quan trọng đóng vai trò là nền tảng lý luận của đề tài, bao gồm các lý thuyết về lãnh đạo, phong cách lãnh đạo; sự cam kết của nhân viên trong tổ chức; cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và xem xét các nghiên cứu đã thực hiện trƣớc đây có liên quan đến đề tài.
KHÁI NIỆM LÃNH ĐẠO VÀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO 2. Khái niệm Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự. “Lãnh đạo đƣợc ví nhƣ một con đƣờng có hai chiều, trung thành với cấp trên và nhiệt tâm với cấp dƣới. Theo đó, lãnh đạo là ngƣời tôn trọng cấp trên và chăm lo tập thể của anh ta” (Hopper, 1987) (trích dẫn từ Trƣơng Thị Lan Anh, 2012).
“Khi nghĩ lãnh đạo là ngƣời đứng ở trên đỉnh, chúng ta đã hoàn toàn chối bỏ cơ hội để những ngƣời khác trở thành nhà lãnh đạo” (Senge) (trích dẫn từ Trƣơng Thị Lan Anh, 2012). Nhƣ vậy, Senge cho rằng bất kỳ ai cũng có cơ hội trở thành lãnh đạo, lãnh đạo không nhất thiết phải là ngƣời có chức vụ trong tổ chức/doanh nghiệp. Theo Newstrom (2007), lãnh đạo là một quá trình của sự ảnh hƣởng và hỗ trợ các cá nhân khác làm việc hăng hái, nhiệt tình nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung. Có ba điểm nhấn quan trọng trong định nghĩa lãnh đạo của Newstrom: sự ảnh hƣởng, sự hăng hái làm việc và sự hoàn thành; tƣơng ứng với ba chủ thể: nhà lãnh đạo, nhân viên và mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm trên thể hiện rõ vai trò 9 của nhà lãnh đạo đối với tổ chức, cũng nhƣ cách thức để tổ chức thực hiện mục tiêu đã đề ra. Trên thực tế, khái niệm lãnh đạo và quản lý thƣờng hay bị nhầm lẫn với nhau. Về bản chất, tuy một ngƣời có thể vừa đƣợc gọi là quản lý vừa đƣợc gọi là lãnh đạo nhƣng đây là hai khái niệm đƣợc phân biệt khá rõ ràng (Dourado) (trích dẫn từ Trƣơng Thị Lan Anh, 2012), đƣợc trình bày trong Bảng 2. Nhƣ vậy, điểm khác nhau cơ bản nhất giữa nhà quản lý và nhà lãnh đạo là phƣơng hƣớng hoạt động.
Ngƣời quản lý chú trọng đến tình trạng hiện tại, mục đích hoạt động của họ là đảm bảo công việc vận hành đúng quy trình, quy định và đạt năng suất. Ngƣợc lại, nhà lãnh đạo hƣớng đến tính dài hạn của vấn đề, họ xem hiện trạng là một công cụ để phục vụ cho mục đích tƣơng lai. Do đó, có thể nói nhà lãnh đạo là ngƣời tạo dựng tầm nhìn cho tổ chức, còn nhà quản lý là ngƣời vận hành tổ chức. Về mặt lý tƣởng, nhà quản lý nên là nhà lãnh đạo (quản lý và lãnh đạo là cùng một ngƣời).
Tuy nhiên, không phải tất cả lãnh đạo nào cũng đều biết và có thể thực hiện các chức năng quản lý, họ cũng không có trách nhiệm thực hiện các chức năng đó. Và, cũng không phải nhà quản lý nào cũng đều có thể ảnh hƣởng và truyền cảm hứng cho ngƣời khác nhƣ nhà lãnh đạo. Các cách tiếp cận trong nghiên cứu về lãnh đạo Là khái niệm quan trọng trong lĩnh vực nhân sự hƣớng đến yếu tố con ngƣời, do đó có nhiều hƣớng tiếp cận để nghiên cứu về lãnh đạo, phụ thuộc vào cách nhìn và nhận thức của nhà nghiên cứu. Thông thƣờng, có bốn hƣớng tiếp cận nhƣ sau: Tiếp cận theo hướng phẩm chất (trait approaches) Trƣờng phái này cho rằng lãnh đạo là những ngƣời có đầy đủ tố chất, đặc điểm để làm lãnh đạo ngay từ khi mới sinh ra; đó có thể là những đặc điểm về nhân cách, xã hội, thể chất hoặc trí tuệ nổi bật, thuận lợi cho việc trở thành nhà lãnh đạo.
Trƣờng phái này cho rằng có bốn yếu tố quan trọng làm nên nhà lãnh đạo hiệu quả: khả năng tạo ảnh hƣởng, năng lực toàn diện, truyền cảm hứng và tinh thần cầu tiến.1: Phân biệt nhà quản lý và nhà lãnh đạo Tiêu chí TT Quản lý Lãnh đạo so sánh Là ngƣời sử dụng quyền lực Là ngƣời có khả năng ảnh Định vốn có trong thứ hạng chính hƣởng đến một nhóm ngƣời 1 nghĩa thức để đạt đƣợc sự tuân thủ từ cùng hƣớng đến việc đạt đƣợc các thành viên trong tổ chức mục tiêu chung. - Khởi xƣớng, bắt đầu công việc - Phát minh, sáng tạo cái mới Quá - Tập trung vào sự việc - Tập trung vào con ngƣời 2 trình suy nghĩ - Tập trung vào vấn đề cần giải - Hƣớng rộng ra bên ngoài vấn quyết) đề Phƣơng - Lập kế hoạch vận hành cho bộ - Xây dựng tầm nhìn cho tổ hƣớng phận/tổ chức; chức; 3 hoạt - Hƣớng đến mục tiêu: cải tiến - Hƣớng đến mục tiêu: tạo động hiện trạng của tổ chức. dựng tƣơng lai cho tổ chức. - Kiểm soát chặt chẽ công việc - Phân quyền cho nhân viên Mối của nhân viên chủ động thực hiện công việc; quan hệ - Xem nhân viên là ngƣời thừa - Xem nhân viên là ngƣời cộng 4 với nhân hành (cấp dƣới) tác; viên - Chỉ đạo và điều phối công - Tin tƣởng và đào tạo, phát việc của nhân viên.
triển năng lực nhân viên; Phƣơng - Chú trọng hiệu suất; - Chú trọng hiệu quả; pháp 5 - Quản trị sự thay đổi - Tạo sự thay đổi; vận hành - Phục vụ cho quản lý cấp trên - Phục vụ khách hàng. Trƣờng phái này nghiên cứu nhà lãnh đạo dƣới góc nhìn của nhân viên đối với hành vi tiềm ẩn cũng nhƣ hành vi bộc lộ rõ ràng của nhà lãnh đạo. Đó là sự tổng hòa của 11 tƣ duy triết học, kỹ năng thực hiện, đặc điểm cá nhân, thái độ và niềm tin của nhà lãnh đạo về khả năng của cấp dƣới (Newstrom, 2007). Phong cách lãnh đạo khác nhau chủ yếu dựa vào: động cơ, quyền lực và định hƣớng hành vi của nhà lãnh đạo.
Tiếp cận theo hướng ngẫu nhiên/tình huống (contingency approaches) Những nhà nghiên cứu ở trƣờng phái này cho rằng không có phong cách lãnh đạo nào thành công cho mọi tình huống, sự thành công của lãnh đạo phụ thuộc vào sự phù hợp giữa phong cách lãnh đạo và tình huống cụ thể. Do đó, để lựa chọn phong cách lãnh đạo hiệu quả, nhà lãnh đạo phải phân tích tình huống, xác định đƣợc đặc điểm của tình huống, bản chất vấn đề, từ đó xác định những yếu tố định hƣớng cho phong cách lãnh đạo thích hợp nhất. Các hướng tiếp cận mới về lãnh đạo (emerging theories) Một số hƣớng tiếp cận mới về lãnh đạo từ khoảng thập niên 80 trở lại đây: Nhà lãnh đạo có sức thu hút/lôi cuốn (charismatic leadership): là “nhà lãnh đạo có chiều sâu về chuyên môn, sự tự tin về bản thân và thể hiện sự kỳ vọng cao về hiệu quả làm việc; sử dụng ngôn ngữ và biểu tƣợng cá nhân để truyền cảm hứng cho những ngƣời khác. Họ có thể là nhà cố vấn thân thiện đối với từng nhân viên và hƣớng họ đến những hành động cụ thể” (Newstrom, 2007, p334).
Nhƣ vậy, nhà lãnh đạo lôi cuốn là ngƣời thu hút đƣợc những ngƣời đi theo bởi những đặc điểm, uy tín và sự thu hút của cá nhân ngƣời lãnh đạo mà không dựa vào các dạng quyền lực bên ngoài. Nhà lãnh đạo tạo sự đổi mới về chất (full-range leadership): các nhà nghiên cứu cho rằng nhà lãnh đạo mới về chất sẽ theo đuổi việc làm tăng sự hiểu biết của nhân viên bằng việc hƣớng họ tới những lý tƣởng cao cả và những giá trị đạo đức cao thƣợng. Các nhà nghiên cứu cũng chia phong cách nhà lãnh đạo thành hai loại: nhà lãnh đạo chuyển đổi (transformational 12 leader) và nhà lãnh đạo công việc (transactional leader) (trích dẫn từ Trƣơng Thị Lan Anh, 2012). + Nhà lãnh đạo công việc là ngƣời sử dụng phần thƣởng để kích thích nhân viên làm việc, quản lý bằng việc tìm kiếm các sai lệch so với quy tắc đặt ra, giám sát nhân viên nhằm đảm bảo họ làm đúng theo kế hoạch, đảm bảo hiện trạng của công việc.
+ Nhà lãnh đạo chuyển đổi là ngƣời sẽ tạo ra những nhà lãnh đạo khác, chứ không nhằm mục đích tạo ra những ngƣời theo sau; họ chú trọng việc tạo dựng tầm nhìn, thay đổi nhu cầu (cầu tiến, hoàn thiện bản thân) cho nhân viên thay cho nhu cầu sở hữu (hài lòng với những thứ đạt đƣợc). Phong cách lãnh đạo lôi cuốn/thu hút 2. Khái niệm Nhà nghiên cứu đầu tiên đề cập đến phong cách lãnh đạo lôi cuốn/thu hút là Weber (1947) (trích dẫn từ Kakavogianni, 2009). Khi đó, Weber xem khả năng thu hút của lãnh đạo nhƣ một hình thức tinh khiết của quyền lực xuất phát từ món quà của thần linh (trích dẫn từ Paul và các cộng sự, 2002).