CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về phong cách lãnh đạo 1.1 Khái niệm lãnh đạo Tuy nghiên cứu về lãnh đạo chỉ mới bắt đầu vào đầu thế kỷ 20 nhưng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về lãnh đạo. Theo Janda (1960): “Lãnh đạo là dạng đặc biệt của quan hệ được đặc trưng bởi nhận thức của các thành viên, một thành viên khác của nhóm có quyền đòi hỏi những dạng hành vi đối với các thành viên khác trong hoạt động của họ như là một thành viên nhóm”. Theo Bass (1990) định nghĩa “lãnh đạo là một quá trình tương tác giữa các cá nhân và các nhóm bao gồm một tình hình có cấu trúc hoặc tái cấu trúc, kỳ vọng và nhận thức của các thành viên”. Theo Hemphill & Coons (1957) đã định nghĩa rằng “lãnh đạo là hành vi của một cá nhân nào đó nhằm chỉ đạo các hoạt động của một nhóm để thực hiện mục tiêu chung”.
Theo Yukl (2002): “Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả…quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra”. Theo Schein (1992): “Lãnh đạo là khả năng bứt phá khỏi văn hóa…nhằm thực hiện một quá trình thay đổi tiến hóa mang tính thích ứng cao”. Terry (1972), “Lãnh đạo là một hoạt động gây ảnh hưởng đến con người nhằm phấn đấu một cách tự nguyện cho mục tiêu của nhóm”. SVTH: Lê Hải Vân 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương Theo Robert Tannenbaum, Irving R.
Weschler và Fred Massarik (1961) định nghĩa “lãnh đạo là ảnh hưởng giữa các cá nhân, thực hiện trong một tình huống và chỉ đạo thông qua quá trình giao tiếp, hướng tới việc đạt được một mục tiêu hay mục tiêu cụ thể”. Theo Harold Koontz và Cyril O’Donnell (1964) cho rằng “ Lãnh đạo là sự gây ảnh hưởng đến con người nhằm theo đuổi việc đạt được một mục đích chung”. Theo Kevin Freiberge và Jackie Freiberge (1996), “Lãnh đạo là một mối quan hệ năng động dựa trên sự ảnh hưởng lẫn nhau và mục đích chung giữa nhà lãnh đạo và các cộng sự, theo đó, họ đang đạt tới một mức độ cao hơn về tính động viên và tinh thần làm việc trong khi đang cùng thực thi sự thay đổi theo dự tính”. Theo Joseph Rost (1991), “Lãnh đạo là mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa nhà lãnh đạo và cộng sự - nhằm đạt tới những thay đổi phản ánh mục đích chung của cả hai bên”.
Theo House và các cộng sự (1999): “Lãnh đạo là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, làm cho mọi người góp phần vào hiệu quả và thành công của tổ chức họ đang làm việc”. Tóm lại có nhiều khái niệm khác nhau về lãnh đạo. Trong các định nghĩa trên đều cho thấy điểm chung về lãnh đạo là quá trình tác động và gây ảnh hưởng (bằng cách tạo điều kiện, môi trường, truyền cảm hứng) đến con người để tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của họ nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ, sứ mạng của nhóm, của tổ chức. Quan điểm của đề tài là không xem lãnh đạo là người đứng đầu tổ chức mà bất kỳ cá nhân nào tìm cách gây ảnh hưởng, tác động đến hành vi của người theo sau, làm họ tự nguyện hướng đến nhiệm vụ, mục tiêu, sứ mạng của nhóm, của tổ chức đều được xem là lãnh đạo.2 Phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý Trong thực tế, thuật ngữ lãnh đạo (leadership) và quản lý (management) rất dễ bị SVTH: Lê Hải Vân 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương nhầm lẫn và không có sự phân biệt rõ ràng khi sử dụng.
Nhưng đây lại là hai hệ thống khác nhau. Nếu lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng bằng cách truyền cảm hứng để tìm kiếm sự tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ, sứ mạng thì quản lý là việc sử dụng quyền lực gắn liền với một chức vụ chính thức để đạt được sự phục tùng của cấp dưới. Rõ ràng đây là hai hệ thống riêng biệt khác nhau và bổ sung cho nhau. Mỗi một hệ thống có chức năng và cách hoạt động riêng của nó và cả hai đều cần cho tổ chức, trước hết là phương hướng đúng tức lãnh đạo đúng, và sau đó là thực hiện đúng tức quản lý đúng.
Để làm rõ hơn sự phân biệt giữa Bảng 1.1: Phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý Lãnh đạo Quản lý Nhà lãnh đạo đổi mới Nhà quản lý cai quản Nhà lãnh đạo hỏi “cái gì” và “tại sao” Nhà quản lý hỏi “như thế nào” và “khi nào” Nhà lãnh đạo tập trung vào con người Nhà quản lý tập trung vào hệ thống Nhà lãnh đạo làm điều đúng lẽ phải Nhà quản lý làm điều đúng phép tắc Nhà lãnh đạo phát triển Nhà quản lý duy trì Nhà lãnh đạo gây dựng lòng tin Nhà quản lý dựa vào kiểm soát Nhà lãnh đạo có tầm nhìn dài hạn Nhà quản lý có tầm nhìn ngắn hạn Nhà lãnh đạo thách thức hiện trạng Nhà quản lý chấp nhận hiện trạng Nhà lãnh đạo nhìn về đường chân trời Nhà quản lý nhìn vào điểm mấu chốt Nhà lãnh đạo sáng tạo Nhà quản lý bắt chước Nhà lãnh đạo là chính mình Nhà quản lý cố gắng trở thành quân nhân tài giỏi Nhà lãnh đạo thể hiện sự độc đoán Nhà quản lý sao chép (Nguồn: Bennis(1994), Quản trị học) Từ các định nghĩa về lãnh đạo hay từ sự phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý đều không đề cập đến lãnh đạo là người đứng đầu trong một tổ chức. Tuy nhiên, ở Việt Nam, lãnh đạo là từ để chỉ các cán bộ quản lý cấp cao hay các nhân sự trong ban giám đốc, ban điều hành của doanh nghiệp. Và cách phân biệt như vậy thì không chuẩn theo chuyên SVTH: Lê Hải Vân 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương môn trong thuyết lãnh đạo và cũng gây khó khăn trong khảo sát. Do đó, đối tượng lãnh đạo được đánh giá trong khóa luận này là các cấp trên có khả năng tác động, ảnh hưởng đến nhân viên trong việc họ hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu, sứ mạng của nhóm, của tổ chức và được nhân viên xem là lãnh đạo.3 Khái niệm phong cách lãnh đạo Phong cách lãnh đạo là một nhân tố quan trọng trong việc thành bại của người lãnh đạo và quản lý.
Trong tập thể lao động, phản ứng đầu tiên của mọi người đối với việc quản lý là phản ứng phong cách người lãnh đạo. Phương pháp, cách thức làm việc của người lãnh đạo có thể làm cho mọi người tham gia hoạt động chung, bởi vì họ xác định được mục đích chung. Phương pháp, cách thức làm việc đó làm cho mọi người đoàn kết, khuyến khích họ nâng cao bồi dưỡng chuyên môn. Chính vì phong cách lãnh đạo có ý nghĩa quan trọng như vậy, do đó có nhiều công trình nghiên cứu về nó để tìm ra đặc trưng, biểu hiện, cũng như lựa chọn một phong cách lãnh đạo thích hợp cho mình.
Có nhiều quan điểm khác nhau về phong cách lãnh đạo: Theo một số tác giả người Nga: “phong cách làm việc của người lãnh đạo, quản lý là tổng thể các phương pháp đặc trưng và ổn định nhất nhằm giải quyết những nhiệm vụ nảy sinh trong quá trình thực hiện chức năng lãnh đạo. Có thể nói phong cách lãnh đạo là một hệ thống nhất định gồm những phương pháp lãnh đạo thường xuyên được áp dụng”. Theo tác giả Trần Ngọc Khuê: “phong cách lãnh đạo là nói đến hệ thống hành vi cá nhân của người lãnh đạo, quản lý trong việc sử dụng những quyền hạn, quyền lực, tri thức và trách nhiệm được giao”. Theo Nguyễn Hữu Lam (2008): “Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi người đó thể hiện khi thực hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác theo nhận thức của đối tượng”.
Theo Lê Thanh Hà (2004): “Phong cách lãnh đạo là những mô hình hoặc cách mà người lãnh đạo thường sử dụng để gây ảnh hưởng đến người cấp dưới trong quá trình thúc đẩy họ thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức”. SVTH: Lê Hải Vân 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương Phong cách lãnh đạo là một kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yếu tố môi trường xã hội bên trong hệ thống quản lý. Phong cách lãnh đạo = Cá tính x Môi trường. Nhìn chung những định nghĩa trên đã đề cập và phản ánh khá rõ nhiều mặt, nhiều đặc trưng khác nhau của phong cách lãnh đạo.
Tuy nhiên phần lớn các định nghĩa chỉ nhấn mạnh đến mặt chủ quan, mặt cá tính của chủ thể lãnh đạo chứ chưa đề cập, xem xét phong cách lãnh đạo như một kiểu hoạt động. Kiểu hoạt động đó được diễn ra như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường xã hội trong đó có sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng, của nền văn hóa… Như vậy chúng ta có thể định nghĩa phong cách lãnh đạo như sau: Phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yếu tố môi trường xã hội trong hệ thống quản lý.4 Các lý thuyết về phong cách lãnh đạo Các phong cách lãnh đạo dựa trên việc sử dụng quyền lực Dựa trên việc sử dụng quyền lực, có 3 phong cách lãnh đạo cơ bản của nhà quản trị đó là phong cách lãnh đạo chuyên quyền, phong cách lãnh đạo dân chủ, phong cách lãnh đạo tự do. Phong cách lãnh đạo chuyên quyền: Đây là phong cách lãnh đạo được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào một mình người lãnh đạo, họ quản lý bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể. Lãnh đạo chuyên quyền là người thích ra lệnh, quyết đoán, ít có lòng tin ở cấp dưới.
Họ thúc đẩy nhân viên làm việc bằng đe dọa, trừng phạt là chủ yếu. Ưu điểm của phong cách lãnh đạo này là người lãnh đạo giải quyết công việc nhanh chóng, triệt để và thống nhất, nắm bắt được thời cơ, cơ hội kinh doanh. Ngoài ra, SVTH: Lê Hải Vân 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương phong cách lãnh đạo này đảm bảo quyền lực của nhà lãnh đạo.