Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vài nét về lý thuyết Phê bình sinh thái “Phê bình văn học sinh thái ra đời từ gợi ý của sinh thái học, khoa nghiên cứu mối quan hệ tương sinh, tương tác giữa các sinh thể cùng mối quan hệ của chúng với môi trường vật chất xung quanh” [55]. Suốt mấy chục thế kỉ qua, nhân loại do kiêu hãnh với quan niệm “con người là trung tâm của thế giới”, “Con người là tinh hoa của muôn loài” đã dẫn đến việc coi chinh phục tự nhiên như một trong những mục đích để khẳng định sức mạnh của mình. Và đó chính là nguyên nhân của nạn hủy hoại môi trường tự nhiên, đẩy môi trường tự nhiên vào tình trạng suy thoái ngày càng nghiêm trọng.
Tầng ozon bị thủng do việc sử dụng, sản xuất và thải bỏ các chất gây hại bừa bãi; đời sống công nghiệp khiến cho nguồn nước sạch bị ô nhiễm; “hiệu ứng nhà kính” do sử dụng nhiều nguyên liệu hoá thạch, do sự giảm sút diện tích rừng xanh khiến cho nhiệt độ của trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao đe doạ đời sống của hàng triệu người dân trên thế giới; những luồng di dân tự do không kiểm soát được ở các nước phương Tây và việc bùng nổ dân số tự nhiên khiến áp lực dân số đè nặng lên “thân thể vô cơ” - môi trường tự nhiên, khiến tự nhiên phải căng mình ra mà chống đó. Đó là những hệ lụy ghê gớm do con người gây ra cho chính mình. Chưa bao giờ vấn đề môi sinh lại trở nên nghiêm trọng như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ nhân loại lại có chung một nỗi lo sinh thái ghê gớm như bây giờ.
Vấn đề môi sinh trở thành vấn đề đáng quan tâm không của riêng ai, cũng không của riêng một quốc gia nào mà là vấn đề của toàn cầu. Nguy cơ sinh thái đòi hỏi văn học cũng phải trở thành một trận chiến để bảo vệ môi trường nhân sinh. Đó là điều kiện cho sự ra đời của phê bình văn học sinh thái. Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latin là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình.
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và 9 c logos (học thuyết, khoa học). Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra. Ông chính là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái, nghiên cứu về mối tương quan của sinh vật với môi trường. Phê bình sinh thái được manh nha từ những năm bảy mươi của thế kỉ XX.
Ngay từ khi xuất hiện, phê bình sinh thái đã không thuần nhất. Ở Anh người ta thường sử dụng thuật ngữ “nghiên cứu xanh” (green study) còn ở Mĩ người ta lại sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái” (ecocritism). Ngoài ra, một số thuật ngữ khác như: “thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường” (environmental literary criticism)…cũng được sử dụng. Tuy nhiên, cuối cùng, các học giả đã thống nhất chọn thuật ngữ ecocritism (phê bình sinh thái) của Cheryll Glotfelty vì nó ngắn gọn và có thể dễ dàng tạo thành dạng thức khác là ecocritical (tính chất phê bình sinh thái) và ecocritic (nhà phê bình sinh thái).
Thuật ngữ ecocritism có lẽ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1987 bởi William Rueckert trong một khảo luận tên là Văn học và sinh thái: Một thử nghiệm mới trong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism). Phê bình sinh thái (ecocritism) theo Rueckert có nghĩa là “việc ứng dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học”. Năm 1974, công trình của Joseph Mecker là Hài kịch của sự sinh tồn (The Comedy of Survial) đã đưa ra vấn đề tranh luận cơ bản: chính văn hóa phương Tây với nền tảng tư tưởng của thuyết con người là trung tâm đã khiến cho môi trường trở nên khủng hoảng. Mãi đến năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sự phát triển.
Phiên họp đặc biệt nổi tiếng nhất của Hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại (MLA) vào năm 1991 có chủ đề “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” đã thực sự tạo được tiếng vang và thúc đẩy hướng nghiên cứu này phát triển mạnh mẽ. Năm 2004, Grey Garrard (Đại học Bath Spa, Anh) xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái (thuật ngữ phê bình mới) Ecocriticism (The New Critical Idiom) bàn về diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ tám phương diện: ô nhiễm, nơi chốn, điền viên, hoang dã, tận thế, cư trú, động vật, trái đất. Từ cái 10 c nhìn của phê bình sinh thái, tác giả đã chất vấn và khéo léo đưa người đọc đào sâu vào những tranh luận chính của phê bình sinh thái hôm nay. Như vậy, khởi phát từ Anh - Mỹ, phê bình sinh thái đang là một trào lưu phê bình năng động, thu hút sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới.
Tiềm năng của phê bình sinh thái là rất lớn. Theo Timothy Clark: “Phê bình sinh thái đã tạo được một khu vực hoạt động rất năng động, chưa đánh giá hết được nơi các vấn đề, các chuyên ngành học thuật chính trị giao cắt nhau. Sức mạnh tiềm tàng của nó không phải chỉ như một nhánh phê bình văn học khác, được đặt bên trong những biên giới thiết chế đã có sẵn mà ở chỗ nó là một cách tiếp cận mang tính khiêu khích cả trong việc phân tích văn học lẫn những vấn đề vừa động hiện, vừa che khuất lẫn nhau của khoa học, đạo đức, chính trị và thẩm mỹ” [68]. Nhìn chung, nghiên cứu văn học theo lý thuyết phê bình sinh thái phương Tây chủ yếu tập trung vào thái độ và hành vi của nhân loại đối với tự nhiên, khẳng định vai trò của tự nhiên và cảnh báo nguy cơ sinh thái đến từ mối quan hệ tiêu cực giữa con người và tự nhiên.
Sau thời kì phát triể n ở Mỹ và phương Tây, đến nay nghiên cứu sinh thái và nghiên cứu văn ho ̣c sinh thái đang mở rô ̣ng đế n nhiề u khu vực khác trên thế giới, trong đó có châu Á. Ở Việt Nam, trong điề u kiê ̣n môi sinh đang có những biến đổi đáng lo ngại, viê ̣c nghiên cứu phê bình văn ho ̣c sinh thái là vô cùng cần thiết. Những năm gần đây, qua các bản dịch của một số học giả, những luận điểm cơ bản của phê bình sinh thái đã đươ ̣c giới thiêụ vào Viêṭ Nam, đem đến cho giới nghiên cứu một phương pháp lí thuyết mới của lí luận phê bình. Có thể kể đến các công trình: Văn chương và môi trường của Lawrence Buell, Ursula K.
Heise, Karen Thornber do Nguyễn Hạnh Quyên dịch; Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học Phê bình sinh thái của Karen Thornber do Hải Ngọc dịch; Phê bình sinh thái - Cội nguồn và phát triển do Đỗ Văn Hiểu dich. ̣ Cũng đã xuất hiện những bài nghiên cứu hướng về lí thuyết phê bình sinh thái như: Mùa xuân sinh thái & văn chương của Huỳnh Như Phương; Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay của Trần Đình Sử; Sáng tác và phê bình sinh thái - tiề m năng cầ n khai thác của văn học Viê ̣t Nam của 11 c Nguyễn Thị Tịnh Thy…Cùng với đó là những công trình nghiên cứu vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào tìm hiểu các tác phẩm cụ thể như: Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái của tác giả Vũ Minh Đức; Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái của Đặng Thái Hà; Thơ mới từ góc nhìn phê bình sinh thái học của Nguyễn Đăng Điệp; Biến đổi môi trường sống - nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương của tác giả Dương Thu Hằng; Văn xuôi Việt Nam hiện đại sau 1975 nhìn từ góc nhìn phê bình sinh thái của các tác giả Lê Lưu Oanh - Trần Thị Ánh Nguyệt; Cảm quan sinh thái trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại và Cảm hứng nhân văn trong tiểu thuyết Vi Hồng của Đào Thủy Nguyên; Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn sinh thái của Nguyễn Thùy Trang, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi từ góc nhìn phê bình sinh thái của Lê Thị Thảo…Có thể thấy, các công trình nghiên cứu này đã khẳng định địa hạt rộng mở của văn học sinh thái, vận dụng tư tưởng sinh thái để nghiên cứu không chỉ phương diện sinh thái tự nhiên mà cả phương diện sinh thái nhân văn trong sáng tác văn học. Và điều này là hoàn toàn có cơ sở. Như chúng ta đã biết, sinh thái học tự nhiên và sinh thái học nhân văn là hai phương diện cấu thành hệ sinh thái.
Trong sinh thái tự nhiên, con người được nghiên cứu về nguồn gốc, sự thích nghi cũng như sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên. Trong sinh thái nhân văn, con người được nghiên cứu ở mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người với nhau và giữa môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Như vậy, phê bình sinh thái văn học hướng vào sinh thái tự nhiên là cần thiết nhưng cũng cần quan tâm cả sinh thái nhân văn để từ đó có thể nhìn sâu hơn, đầy đủ hơn vào các khả năng của văn học trong nghiên cứu vấn đề môi sinh của con người. Có thể khẳng định, phê bình sinh thái “chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” chứ không phải là đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật học, hay phương pháp nghiên cứu của bất kì ngành khoa học tự nhiên nào vào phân tích văn học.
Chính vì 12 c vậy, không thể “giới hạn, đóng khung nó trong phạm vi hay phương pháp nào cả” [3]. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, một số nhà phê bình sinh thái Mỹ và phê bình sinh thái Trung Quốc như Lỗ Khu Nguyên, Vương Nhạc Xuyên trong khi quan tâm đến phê bình sinh thái tự nhiên cũng đã quan tâm đến “kiểu phê bình văn học lấy tư tưởng sinh thái làm trung tâm, qua đó giải quyết các vấn đề sinh thái xã hội, xác lập lí tưởng sống cao đẹp, khắc phục các ô nhiễm tinh thần, khiến tinh thần trong sạch, cân bằng, góp phần làm ổn định xã hội”.