Chương 1. GIỚI THUYẾT CHUNG 1. Những vấn đề chung về sinh thái và văn học 1. Khái niệm sinh thái và phê bình sinh thái 1.
Khái niệm sinh thái “Sinh thái” là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa sinh vật và môi trường [tr. Trong đó sinh vật là một cơ thể sống với các đặc trưng như chuyển động, trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản và phản ứng đối với các kích thích bên ngoài. Còn môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người…Nói như vậy thì mối quan hệ giữa giữa con người và môi trường là mối quan hệ biện chứng. Trước nguy cơ sinh thái hiện nay, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người cần có sự thay đổi thế giới quan nhận thức.
Con người không những tôn trọng và có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi sinh mà còn có trách nhiệm với chính bản thân, cộng đồng và xã hội. Phê bình sinh thái Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết). Sinh thái học, vì thế, là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, và đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học này là tất cả các mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường.Từ chỗ là một bộ môn gắn liền với sinh học, sinh thái học dần mở rộng, ảnh hưởng đến nhiều bộ môn khoa học khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn. Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latinh là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình.
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học). Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra. Ông chính là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái, nghiên cứu về mối tương quan của động vật với các thành phần môi trường vô sinh. 10 download by : skknchat@gmail.com Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học, phê bình sinh thái (ecocrticism), được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm chín mươi của thế kỉ XX, đã hấp thu tư tưởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học”.
Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa theo bản dịch của tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt trong bài báo Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường đăng trên tapchisonhuong.vn, khái niệm phê bình sinh thái được phát biểu như sau: “phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Cũng giống như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxit mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earth - centered approach) để nghiên cứu văn học” [10, tr.40] Hiện nay, Phê bình sinh thái xuất hiện như một phản ứng trước sự tàn phá môi trường, quá trình đô thị hóa và sự mất cân bằng sinh thái đe dọa sự tồn vong của trái đất. Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng phải đến những năm 70 của thế kỉ XX, khi Joseph W. Meeker cho xuất bản Sinh thái học của văn học và chính thức đề xuất tên gọi sinh thái học văn học (literary ecology) thì các nhà nghiên cứu mới bắt đầu quan tâm đến mối quan hệ giữa văn hóa, văn học và môi trường.
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác, chẳng hạn như Phê bình văn học sinh thái. Sự tưởng tượng lãng mạn và sinh học trí tuệ của Karl Kroeber, Hợp tuyển phê bình sinh thái học: Những điểm nhấn trong sinh thái học văn học của Cheryll Glotfellty và Harold Fromm. Vào năm 1992, Hội Nghiên cứu văn học và môi trường được thành lập tại Đại học Nevada, Hoa Kì.Từ đó trở đi, văn sinh thái (ecolit) và phê sinh thái (ecocrit) xuất hiện liên tục trong nhiều bài viết khác nhau.Phê bình sinh thái (văn hóa) từ đó nhanh chóng trở thành hiện tượng toàn cầu. Giới nghiên cứu văn học Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến phê bình sinh thái với sự góp mặt của một số học giả tiêu biểu như Đình Hiểu Nguyên, Lỗ Khu Nguyên.
Thực ra về bản chất, phê bình sinh thái ra đời bắt nguồn từ phản ứng lại với truyền thống coi con người là trung tâm, xem nhẹ, phủ nhận thiên nhiên được phản ánh trong văn học. Tuy nhiên, gần đây, khái niệm phê bình sinh thái được mở rộng hơn, khi coi môi trường tinh thần xã hội cũng là một kiểu hệ sinh thái tác động đến văn học nghệ thuật. 11 download by : skknchat@gmail.com Tìm hiểu, nghiên cứu văn học từ góc nhìn phê bình sinh thái hầu như chưa được chú ý nhiều ở Việt Nam nó mới được chú ý khoảng vài thập niên gần đây. Hiện nay, phê bình sinh thái mới xuất hiện một số công trình về sinh thái học, song còn rất non yếu.
Một số bài viết và công trình của các học giả nước ngoài đã bước đầu được dịch và giới thiệu, mà đáng chú ý hơn cả là Sinh thái học nhân văn của Georges Oliver (Huy Yên, Võ Bình, Đỗ Ngọc Hải dịch, Nxb Thế giới, 1997, tái bản 2002). Riêng về phê bình sinh thái văn học thì mới có những nốt dạo đầu là các công trình của Trần Đình Sử, Trịnh Bích Liên, Đỗ Văn Hiểu, Nhã Thuyên. Từ việc giới thiệu về phê bình sinh thái ở Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế, thiếu tính hệ thống. Có thể thấy bài viết “Phê bình sinh thái - cội nguồn và phát triển của Đỗ Văn Hiểu” trên Tạp chí Nhà văn (số 11/2012) là bài tổng thuật công phu và đầy đủ nhất về phê bình sinh thái từ trước tới nay.
Như vậy, sau nhiều thập kỉ hiện diện, phê bình sinh thái vẫn đang trong tiến trình vận động, chưa hề bị giới hạn và đóng khung trong phạm vi hay phương pháp nào cả. Từ nhiều năm trở lại đây, phê bình sinh thái luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà văn học quan tâm, nghiên cứu và tìm hiểu để phần nào làm thức tỉnh ý thức của con người trước sự tàn phá môi trường sống. Khái niệm văn học Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ.
Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Văn học có nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lý luận phê bình.
Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời từ văn học dân gian đến văn học viết. Văn học là một bộ phận quan trọng của văn nghệ. Xét theo nghĩa rộng thì văn học chính là thuật ngữ dùng để gọi chung cho mọi hành vi ngôn ngữ nói- viết và các tác phẩm ngôn ngữ, bao gồm cả những tác phẩm được xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo. Như vậy theo nghĩa rộng thì văn học chính là văn hóa.
12 download by : skknchat@gmail.com Xét theo nghĩa hẹp thì văn học lại là văn hóa - nghệ thuật mà chúng ta vẫn thường dùng hiện nay. Nó bao gồm tất cả những tác phẩm ngôn từ được sáng tác bằng hư cấu và tưởng tượng. Như vậy nếu chúng ta hiểu văn học theo nghĩa hẹp thì những tác phẩm về chính trị, tôn giáo, triết học lại nằm ngoài phạm trù này. Nói cách khác văn học hiểu theo nghĩa hẹp chính là văn chương.
Văn học chính là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ. Văn học được bắt nguồn từ đời sống, phản ánh mọi khía cạnh của đời sống hay bày tỏ một quan điểm, một lập trường đối vối đời sống, một sự việc, hiện tượng, số phận trong xã hội. Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học: văn học là sự phản ánh đời sống xã hội, thể hiện nhận thức và sự sáng tạo của con người. Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm.
Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó. Văn học xây dựng những hình tượng nghệ thuật có khả năng tác động vào trí tuệ, vào liên tưởng của con người. Vì vậy văn học có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất cứ giới hạn nào. Trong văn học có hai loại đó là tự sự (gồm truyện, tiểu thuyết, kí…), loại trữ tình (thơ ca, hò vè…).
Trong phạm vi nghiên cứu tôi tìm hiểu về thơ Thái Nguyên. Thơ, thơ ca hay thi ca, là một khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài.
Thơ thường dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh. Sự tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và chiết khúc.