Chương 1: Tổng quan nghiên cứu phát triển hoạt động xúc tiến thương mại tổ chức sự kiện tiệc cưới của công ty cổ phần du lịch khách sạn Hải Đăng trên thị trường Hải Phòng. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển hoạt động xúc tiến thương mại của công ty dịch vụ du lịch khách sạn. Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển hoạt động xúc tiến thương mại tổ chức sự kiện tiệc cưới của công ty cổ phần du lịch khách sạn Hải Đăng trên thị trường Hải Phòng. Chương 4: Các kết luận và đề xuất với phát triển hoạt động xúc tiến thương mại tổ chức sự kiện tiệc cưới của công ty cổ phần du lịch khách sạn Hải Đăng trên thị trường Hải Phòng.
SV:Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp K45C4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thế Ninh CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CỦA CÔNG TY DỊCH VỤ DU LỊCH KHÁCH SẠN.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản.1 Khái niệm xúc tiến thương mại. Xúc tiến thương mại (XTTM) là thuật ngữ xuất hiện trong kinh tế học từ những năm đầu thế kỷ XX cùng với sự hình thành và phát triển của khái niệm Marketing. XTTM là một trong bốn biến số cơ bản của Marketing – Mix 4P bao gồm : sản phẩm (Product), giá (Price), phân phối (Place) và xúc tiến (Promotion). Bốn biến số này luôn kết hợp và tương tác với nhau, hoạt động Marketing của một doanh nghiệp không thể thành công nếu thiếu một trong bốn biến số này.
Có rất nhiều định nghĩa cũng như quan điểm khác nhau về XTTM như: Trong cuốn “Essentials of Marketing” của trác giả Jerome và William định nghĩa: “XTTM là việc truyền tin giữa người bán hàng và người mua hàng hay những khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi và quan điểm của người mua hàng”. Trong cuốn giáo trình Marketing thương mại của đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Nguyễn Xuân Quang chủ biên, xuất phát từ góc độ thương mại ở các doanh nghiệp, thì “XTTM là các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực Marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại”. Trong giáo trình Marketing thương mại trường Đại học Thương Mại do PGS.TS Nguyễn Bách Khoa chủ biên cũng đưa ra định nghĩa về XTTM, “XTTM là một lĩnh vực hoạt động Marketing đặc và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng và chiêu khách và xác lập mối quan hệ thuận lợi nhất giữa công ty bạn và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối hợp triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing hỗn hợp đã lựa chọn của công ty ”. Như vậy với những quan điểm và định nghĩa về XTTM luận văn xin đi theo quan điểm định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Bách Khoa.
Quan điểm này tiếp cận dưới góc độ của một doanh nghiệp thương mại và dịch vụ và điều này phù hợp với công ty Hải Đăng. SV:Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp K45C4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thế Ninh 2.2 Bản chất xúc tiến thương mại. Hoạt động xúc tiến thương mại là một công cụ quan trọng, là vấn đề cốt lõi của bất kỳ tổ chức nào để thực hiện chiến lược và chương trình Marketing. Thực chất xúc tiến thương mại là cầu nối giữa cung và cầu để người bán thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng đồng thời giảm được chi phí và rủi ro trong kinh doanh.
Nhờ có xúc tiến thương mại mà người tiêu dùng biết được rằng có những sản phẩm gì trên thị trường? được bán ở đâu? hay sản phẩm muốn mua thì loại nào tốt nhất? Mặt khác các biện pháp xúc tiến thương mại các nhà kinh doanh không bán được hàng hoá mà tác động vào thay đổi cơ cấu tiêu dùng để tác động tiếp cận phù hợp với sự thay đổi của khoa học kỹ thuật và để gợi mở nhu cầu. Hiệu quả kinh doanh tăng lên rõ rệt khi thực hiện các biện pháp xúc tiến thương mại cho dù phải bỏ ra một lượng chi phí không nhỏ cho công tác này. Ngoài ra xúc tiến thương mại còn làm cho công việc bán hàng được dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng hoá vào kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối hợp lý. Do đó xúc tiến thương mại không chỉ là chính sách hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, chímh sách giá và chính sách phân phối mà còn làm tăng kết quả thực hiện các chính sách đó.
Vì vậy để đạt được hiệu quả truyền thông lớn nhất công ty cần phối hợp kỹ lưỡng toàn bộ hệ thống Marketing-mix của mình để phát huy tác dụng xúc tiến thương mại tối đa nhất.3 Vai trò xúc tiến thương mại. Xúc tiến thương mại là một nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty là một bộ phận không thể thiếu được trong quản lý do đó nó có một số vai trò cơ bản sau: - Xúc tiến thương mại đóng vai trò trung gian giữa các công ty qua việc sử dụng một loạt các công cụ của mình. - Xúc tiến thương mại thúc đẩy tạo điều kiện cho các công ty trong quá trình tham gia tồn tại và phát triển trên thị trường một cách có hiệu quả nhất, hay nói một cách khác xúc tiến thương mại có vai trò hỗ trợ cho các công ty hoạt động một cách bình đẳng và lành mạnh trong nền kinh tế. SV:Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp K45C4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thế Ninh - Xúc tiến thương mại là một công cụ quan trọng trong Marketing chính nhờ việc giao tiếp có hiệu quả giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các công ty với khách hàng mà sự vận động của nhu cầu và hàng hoá xích lại gần nhau hơn mặc dù nhu cầu của khách hàng làm phong phú và biến đổi không ngừng.
- Xúc tiến thương mại tác động và làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng. Với bất kỳ khách hàng nào cũng thường có nhiều nhu cầu cùng một lúc các nhà thực hàng Marketing của công ty có thể thực hiện các biện pháp xúc tiến để gợi mở nhu cầu, kích thích người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu cho nhu cầu này hay là nhu cầu khác. - Xúc tiến thương mại làm cho việc bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối hợp lý. Qua việc xúc tiến thương mại các nhà kinh doanh có thể tạo ra được những lợi thế về giá bán.
Do vậy xúc tiến thương mại không phải chỉ là những chính sách biện pháp hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà còn làm tăng cường kết quả thực hiện các chính sách đó, điều đó có nghĩa là xúc tiến thương mại còn tạo ra tính ưu thế trong cạnh tranh.2 Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề phát triển hoạt động xúc tiến thương mại. Với hoạt động XTTM có sử dụng 2 loại mô hình là mô hình quá trình XTTM truyền thống và mô hình kế hoạch XTTM. Trong đề tài này tôi xin trình bày hai mô hình này và lựa chọn một mô hình nghiên cứu.1 Mô hình quá trình xúc tiến thương mại (mô hình truyền thống). Kênh truyền Mã thông Giải hóa mã Thông điệp Công Người ty nhận Nhiễu Phản Đáp hồi ứng Hình 1: Mô hình quá trình xúc tiến thương mại (mô hình truyền thống) SV:Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp K45C4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thế Ninh Trong đó: - Công ty: chủ thể truyền thông, bên gửi thông điệp cho bên còn lại.
- Mã hoá: tiến trình biến ý tưởng thành những hình thức có tính biểu tượng. - Thông điệp: tập hợp tất cả những biểu tượng chứa đựng nội dung giao tiếp mà bên gửi cần truyền. - Kênh truyền thông: là phương tiện để thông điệp đi từ nơi gửi đến nơi nhận. - Giải mã: bên nhận quy ý nghĩa biểu tượng do bên kia gửi tới.
- Người nhận: bên nhận thông điệp do bên kia gửi tới. - Đáp ứng: tập hợp những phản ứng mà bên nhận có được sau khi tiếp nhận truyền thông. - Phản hồi: một phần đáp ứng của bên nhận truyền thông trở lại cho bên kia. - Nhiễu: tình trạng ồn hay sự biến lệch ngoài dự kiến trong quá trình truyền thông dẫn đến kết quả của người nhận được một thông điệp không chuẩn.
Từ mô hình trên, hàng loạt vấn đề đặt ra cần phải sx lý và giải quyết trong quá trình triển khai và thực hiện chương trình xúc tiến thương mại ở các thời gian xác định như: người gửi, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông. Toàn bộ những vấn đề này đòi hỏi nhà tiếp thị của công ty phải nghiên cứu và có quyết định thích hợp.2 Mô hình kế hoạch xúc tiến thương mại của GS.TS Nguyễn Bách Khoa. Hình 2: Mô hình kế hoạch xúc tiến thương mại của GS.TS Nguyễn Bách Khoa Theo mô hình này, ứng vỗi mỗi đoạn thị trường trọng điểm, quy trình hoạch định được bắt đầu với quyết định ai là người nhận trọng điểm và đánh giá sự chấp nhận hiện thời cảu một nhãn hiệu hoặc hình ảnh của một công ty. Bước logic tiếp theo qua việc xác lập các mục tiêu và ngân quỹ thực hiện chúng, tiến hành quyết định thông SV:Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp K45C4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thế Ninh điệp và kênh truyền thông, mã hóa và truyền thông điệp đến khi nó được nhận, mã thông điệp được giải bởi người nhận.
Cuối cùng ghi nhận những đáp ứng và quyết định tổ chức kênh phản hồi để hoàn chỉnh một chu kỳ giao tiếp. Với mỗi mô hình trên ta thấy đều có ưu nhược điểm riêng: Mô hình truyền thống là mô hình quá trình XTTM thì thông điệp mà công ty truyền tải tới số đông khách hàng, khi đó lượng khách hàng sẽ bao gồm rất nhiều các khách hàng khác nhau trên các đoạn thị trường khác nhau, không nhắm tới thị trường mục tiêu chính vì vậy mà hiệu quả của thông điệp truyền thông là chưa cao, đôi khi gây tác động ngược lại. Nhưng với mô hình kế hoạch xúc tiến thương mại của GS.TS Nguyễn Bách Khoa thì thông điệp được truyền tải tới khách hàng mục tiêu trước, trên các đoạn thị trường nhất định khi đó sẽ thu được hiệu quả cao trong quá trình truyền thông mà không gây ra tác động ngược lại. Với mô hình truyền thống thì chịu nhiều tác động của yếu tố gây nhiễu, làm giảm tác động của truyền thông.