Luận văn thạc sĩ ussh các tộc người xuyên biên giới và vấn đề phát triển vùng biên việt trung từ 1990 đến nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh các tộc người xuyên biên giới và vấn đề phát triển vùng biên việt trung từ 1990 đến nay, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2010

213
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Các khái niệm cơ bản và cơ cấu phân tích

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG TRONG LỊCH SỬ

2.1. Đường biên giới Việt – Trung trước hiệp định Pháp - Thanh

2.2. Thực dân Pháp và hiệp định phân định đường biên năm 1894

2.3. Đường biên giới Việt – Trung từ sau độc lập đến nay

3. CHƯƠNG 3: CÁC TỘC NGƯỜI XUYÊN BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG

3.1. Các cư dân của vùng biên giới Việt - Trung

3.2. Thành phần tộc người vùng biên và những khác biệt trong phân loại tộc người giữa Việt Nam và Trung Quốc

3.3. Các nhóm tộc người xuyên biên giới Việt – Trung nhìn từ viễn cảnh so sánh Việt Nam và Trung Quốc

4. CHƯƠNG 4: CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN Ở VÙNG BIÊN VIỆT – TRUNG CỦA VIỆT NAM

4.1. Vùng biên giới Việt - Trung trong chiến lược phát triển đất nước thời hội nhập

4.2. Chiến lược xóa đói giảm nghèo ở vùng biên: Chương trình 135

4.3. Chiến lược phát triển vùng biên: Chính sách khu kinh tế cửa khẩu

5. CHƯƠNG 5: CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN VÙNG BIÊN CỦA TRUNG QUỐC

5.1. Chiến lược “hưng biên phú dân”

5.2. Quá trình thực hiện chương trình hưng biên phú dân

5.3. Thực hiện Hưng biên phú dân tại khu tự trị dân tộc Zhuang Quảng Tây

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Vùng Biên Việt Trung Từ 1990 Đến Nay

Vùng biên Việt - Trung đã trải qua nhiều biến đổi quan trọng từ năm 1990 đến nay. Sự phát triển này không chỉ liên quan đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến văn hóa và xã hội của các tộc người sống tại đây. Các chính sách phát triển vùng biên đã được triển khai nhằm thúc đẩy giao lưu kinh tế và văn hóa giữa hai quốc gia. Đặc biệt, sự hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong lĩnh vực phát triển vùng biên đã tạo ra nhiều cơ hội cho các tộc người xuyên biên giới.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Vùng Biên Việt Trung

Vùng biên Việt - Trung có lịch sử hình thành lâu dài, bắt đầu từ các hiệp định phân định biên giới trong quá khứ. Sự thay đổi trong chính sách và quan hệ giữa hai nước đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vùng biên này.

1.2. Đặc Điểm Văn Hóa Các Tộc Người Xuyên Biên Giới

Các tộc người sống tại vùng biên Việt - Trung có nền văn hóa đa dạng và phong phú. Họ không chỉ chia sẻ ngôn ngữ mà còn có nhiều phong tục tập quán tương đồng, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và hấp dẫn.

II. Thách Thức Trong Phát Triển Vùng Biên Việt Trung

Mặc dù có nhiều cơ hội phát triển, vùng biên Việt - Trung cũng đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như buôn lậu, tội phạm xuyên biên giới và dịch bệnh đang gây khó khăn cho sự phát triển bền vững của khu vực này. Chính sách biên giới cần được điều chỉnh để giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả.

2.1. Vấn Đề Buôn Lậu Và Tội Phạm Xuyên Biên Giới

Buôn lậu và tội phạm xuyên biên giới là những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến an ninh và phát triển kinh tế của vùng biên. Các biện pháp cần thiết phải được thực hiện để ngăn chặn và xử lý các hoạt động này.

2.2. Tác Động Của Dịch Bệnh Đến Kinh Tế Vùng Biên

Dịch bệnh đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế tại vùng biên. Việc kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng là ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh hiện nay.

III. Phương Pháp Phát Triển Bền Vững Vùng Biên Việt Trung

Để phát triển bền vững vùng biên Việt - Trung, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Các chương trình hợp tác giữa hai nước, cùng với sự tham gia của cộng đồng địa phương, sẽ tạo ra những giải pháp khả thi cho sự phát triển lâu dài.

3.1. Chương Trình Hợp Tác Kinh Tế Giữa Việt Nam Và Trung Quốc

Chương trình hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc đã mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên. Việc phát triển các khu kinh tế cửa khẩu là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy giao thương.

3.2. Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Phát Triển Vùng Biên

Cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chương trình phát triển. Sự tham gia của họ sẽ giúp đảm bảo rằng các chính sách phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Nghiên Cứu Vùng Biên Việt Trung

Nghiên cứu về vùng biên Việt - Trung đã chỉ ra nhiều ứng dụng thực tiễn trong phát triển kinh tế và xã hội. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện chính sách và chương trình phát triển tại khu vực này.

4.1. Kinh Nghiệm Phát Triển Từ Các Tộc Người Xuyên Biên Giới

Các tộc người xuyên biên giới đã có nhiều kinh nghiệm trong việc duy trì và phát triển văn hóa, kinh tế. Những kinh nghiệm này có thể được áp dụng để phát triển bền vững vùng biên.

4.2. Chính Sách Phát Triển Khu Kinh Tế Cửa Khẩu

Chính sách phát triển khu kinh tế cửa khẩu đã tạo ra nhiều cơ hội cho người dân địa phương. Việc cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của vùng biên.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Vùng Biên Việt Trung

Tương lai của vùng biên Việt - Trung phụ thuộc vào khả năng giải quyết các thách thức hiện tại và phát huy các cơ hội phát triển. Sự hợp tác chặt chẽ giữa hai quốc gia và sự tham gia của cộng đồng địa phương sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững.

5.1. Triển Vọng Hợp Tác Giữa Việt Nam Và Trung Quốc

Triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong phát triển vùng biên là rất khả quan. Các chương trình hợp tác sẽ tiếp tục được mở rộng và nâng cao hiệu quả.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Phát Triển Bền Vững

Phát triển bền vững là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển vùng biên. Cần có các chính sách phù hợp để đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững cho khu vực này.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề tìm hiểu về các tộc ngƣời xuyên biên giới trong mối liên hệ với chiến lƣợc phát triển vùng biên của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc, luận văn nhằm mục tiêu: 1) mang lại những hiểu biết phổ quát về tình hình các tộc ngƣời cƣ trú vắt qua đƣờng biên giới, mối liên hệ lịch sử, kinh tế và xã hội của họ trong thời kỳ hội nhập khu vực; 2) khám phá không gian xã hội vùng biên và những năng động kinh tế xã hội giữa các cƣ dân sống vắt qua đƣờng biên; 3) tìm hiểu chƣơng trình phát triển ở vùng biên của hai nƣớc và tác động của nó lên đời sống của cƣ dân địa phƣơng, đồng thời tìm kiếm những ngụ ý cho các hoạt động thực tiễn phát triển bền vững ở vùng biên. Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam và vùng biên giới Việt – Trung có những đặc điểm lịch sử, văn hóa và dân số học đặc biệt. Trƣớc hết, tại đây có nhiều tộc ngƣời cƣ trú nên có thể đƣợc coi là một khu vực đa dạng văn hóa. Các tộc ngƣời này có nguồn gốc lịch sử và đặc điểm văn hóa khác nhau nhƣng đã cùng chia sẻ một không gian sinh tồn chung trong một cảnh quan địa lý nổi bật là rừng núi và thung lũng.

Vì thế, ngoài những đặc điểm văn hóa ngôn ngữ riêng, họ cũng có nhiều nét tƣơng đồng do quá trình tiếp xúc và cộng cƣ lâu dài. Trên thực tế, các tộc ngƣời này chỉ bị chia cắt bằng một đƣờng biên giới quốc gia mong manh. Ở cả hai bên đƣờng biên, cƣ dân định cƣ trong môi trƣờng sống này đã sáng tạo nên ba hệ canh tác tƣơng đối phổ biến mà đi cùng với nó thƣờng là một lối sống phù hợp: a) hệ canh tác ruộng bậc thang với kỹ thuật dẫn nƣớc be bờ đặc biệt và kỹ thuật ―thổ canh hốc đá‖ của cƣ dân vùng cao; 2) hệ canh tác nƣơng rẫy trên nền đất dốc với kỹ thuật phát đốt và quay vòng đất rừng nhƣ một phƣơng thức sinh tồn chủ đạo của cƣ dân vùng giữa; 3) hệ canh tác lúa nƣớc với lối sống định cƣ tƣơng đối ổn định của cƣ dân vùng chân núi và thung lũng. Đặc điểm thứ hai của vùng biên giới Việt – Trung là vai trò của tộc ngƣời Hoa (Hán) đối với quá trình phát triển các quan hệ giao thƣơng và đô thị dọc vùng biên.

Ngƣời Hoa không phải là cƣ dân gốc của khu vực này, nhƣng ảnh hƣởng của họ trong các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp của cƣ dân trong vùng lại tƣơng đối nổi bật. Điều này có thể quan sát đƣợc từ một thực tế là phƣơng ngữ Hán phía Nam đƣợc xem là một ngôn ngữ giao tiếp phổ biến có vai trò gắn kết các tộc ngƣời trong giao dịch dân sự và kinh tế. Khảo sát các địa danh vùng núi Bắc Việt Nam hiện nay, các nhà ngôn ngữ học tìm thấy phần lớn gốc gác của chúng đều có mối liên hệ với ngôn ngữ gốc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hán (Nguyễn Văn Hiệu, 2007) trong khi các chợ và khu vực thị trấn, thị tứ dọc đƣờng biên đều có thƣơng nhân ngƣời Hoa làm trung gian buôn bán. Đặc điểm thứ ba là sự phát triển các chợ vùng biên nhƣ là điểm giao dịch kinh tế xã hội xuyên biên giới phổ biến của cƣ dân sống trong vùng biên.

Chƣa có số liệu khảo sát chính thức của cả hai bên nhƣng ở phía Việt Nam, từ vùng ven biển Quảng Ninh đến vùng núi Lào Cai đã có trên một trăm điểm đƣợc xác định là các chợ vùng biên, nơi cƣ dân hai bên đƣờng biên giới thƣờng xuyên giao dịch qua lại. Số chợ vùng biên có thể tăng lên nhiều hơn từ sau thời kỳ hội nhập và đƣợc khuyến khích bởi chính sách phát triển vùng biên của cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc. Các chợ vùng biên không chỉ là nơi giao thƣơng kinh tế, nó cũng là nơi giao dịch dân sự, và hoạt động giao lƣu văn hóa thông qua chợ vùng biên có thể đƣợc xem là một đặc điểm riêng biệt của vùng này. Chỉ ra những đặc điểm chính của khu vực biên giới Việt - Trung nhƣ trên, tôi muốn nhấn mạnh rằng vùng biên không chỉ đơn thuần là nơi có đƣờng biên giới chính trị phân định ranh giới giữa các quốc gia.

Vùng biên có những đặc điểm lịch sử, kinh tế và văn hóa rất riêng biệt cần đƣợc khám phá. Trong tiềm thức của ngƣời dân nói chung, các nhà nghiên cứu nói riêng, vùng biên giới vẫn đƣợc hình dung nhƣ là nơi sơn cùng thủy tận, xa xôi hẻo lánh, nhƣ cái cách ngƣời ta vẫn định dạng là ―miền biên viễn‖. Trong lịch sử cổ trung đại, nhà nƣớc phong kiến Trung Hoa thƣờng xem các cƣ dân sống miền biên viễn là man di mọi rợ, khó cai trị. Tƣơng tự nhƣ vậy, dƣới thời phong kiến Việt Nam, các vua chúa cũng thƣờng hình dung miền biên viễn là nơi lam sơn chƣớng khí, khó cai trị trực tiếp nên thƣờng thu phục các tù trƣởng địa phƣơng để thực thi chiến lƣợc bảo toàn lãnh thổ.

Đối với cả hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc thời phong kiến, miền biên viễn cũng là nơi đầy ải tù nhân, nơi những ngƣời nổi dậy chống lại nhà nƣớc phong kiến lẩn tránh sự truy lùng. Đây là nơi những nhân vật hoạt động xuyên biên giới nổi tiếng đƣợc biết đến trong lịch sử nhƣ Nùng Chí Cao, Lƣu Vĩnh Phúc, và cũng là nơi ẩn tích của nhà Mạc. Vào thế kỷ 14, tể tƣớng nhà Trần là Phạm Sƣ Mạnh, trên đƣờng tuần thú xứ Lạng, dừng chân trƣớc Ải Chi Lăng, đã cảm thán về vùng biên trong bài Chi Lăng động bằng câu thơ: Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề (Ải Chi Lăng hiểm trở tựa lên trời) Dƣới thời thực dân, các nhà tù nổi tiếng khắc nghiệt cũng đƣợc lập ra ở vùng biên viễn nhằm đầy ải tù nhân và lao động khổ sai. Tuy nhiên, lịch sử dƣờng nhƣ đã 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổi thay, vùng biên viễn hiểm trở ―tựa lên trời‖ khi xƣa nay đang trở mình thành một khu vực kinh tế đầy năng động với các mối giao lƣu kinh tế, văn hóa và xã hội xuyên biên giới, thu hút một lƣợng lớn cƣ dân ở nhiều nơi đến sinh cơ lập nghiệp.

Sự hƣng khởi của vùng biên không chỉ tạo nên những trung tâm kinh tế - xã hội năng động mà nó cũng làm thay đổi nhận thức về vùng biên trong đời sống xã hội của đất nƣớc. Do đó, nghiên cứu những đổi thay đang diễn ra ở vùng biên có ý nghĩa quan trọng về nhận thức thực tế. Về mặt lý luận khoa học, các tiếp cận học thuật trƣớc đây thƣờng chịu ảnh hƣởng nặng nề của lý thuyết trung tâm và ngoại vi. Lý thuyết này cho rằng vùng biên viễn nói chung thuộc phạm trù ngoại vi.

Vùng này chịu ảnh hƣởng của khu vực trung tâm, nơi đƣợc xem là tạo ra những ảnh hƣởng cả về văn hóa, kinh tế và chính trị đến vùng ngoại vi. Nói cách khác, lý luận này có xu hƣớng cho rằng cƣ dân vùng biên viễn không có năng động kinh tế - xã hội và họ phụ thuộc vào trung tâm. Theo quan điểm này, các nhà nghiên cứu ở cả Việt Nam và Trung Quốc thƣờng cho rằng khu vực đóng đô, đồng thời là trung tâm hành chính, kinh tế của đất nƣớc đƣợc xem là trung tâm còn các vùng xung quanh đƣợc coi là các vùng đệm và các vùng đệm này đƣợc khống chế bởi các vùng trung tâm bằng chính sách, mà sự hƣng yếu của các quốc gia phụ thuộc vào lực khống chế của các trung tâm này (Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung 1994:13). Tuy nhiên, những biến đổi nhanh chóng gần đây ở khu vực biên giới vốn bị coi là ngoại vi kia cho thấy khu vực này có những năng động kinh tế - xã hội và văn hóa riêng làm nền tảng cho phát triển của khu vực.

Cách tiếp cận vùng biên viễn qua lăng kính trung tâm - ngoại vi dƣờng nhƣ đã phủ định những năng động vốn có của cƣ dân địa phƣơng. Mặt khác, nó có xu hƣớng xem xét các nền văn hóa của cƣ dân địa phƣơng từ nhãn quan có thiên kiến chính trị trong giới hạn của đƣờng biên giới chính trị của quốc gia. Thực ra, nhiều tộc ngƣời vùng biên viễn đã tạo ra đƣợc các trung tâm văn hóa riêng của họ, có lịch sử, bản sắc riêng và trung tâm này có thể không phụ thuộc vào sự chia cắt của đƣờng biên giới quốc gia vốn hình thành muộn và không ổn định. Phân tích các năng động kinh tế xã hội của cƣ dân vùng biên và mối liên hệ của nó với trung tâm hành chính quốc gia có ý nghĩa quan trọng giúp khám phá sâu hơn mối quan hệ trung tâm - ngoại vi, những năng động và di động của cƣ dân vùng biên và những yếu tố nào, hƣớng nội hay hƣớng ngoại, đang chi phối nhận thức và làm nên khác biệt trong văn hóa ở vùng biên.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gần đây xuất hiện một xu hƣớng mới xem xét vùng núi Đông Nam Á và Nam Trung Quốc nhƣ một khu vực ―phi nhà nƣớc‖(non-state space) trong lịch sử mà họ gọi là ―Zomia‖ (Willem van Schendel, 2000). Thuật ngữ ―zomia‖ xuất xứ từ một phƣơng ngữ vùng Ấn độ - Miến Điện. Theo đó ―zo‖ là tên gọi ngƣời dân địa phƣơng dùng để chỉ vùng núi rộng lớn bao gồm vùng núi Bắc Việt Nam, Lào, Nam Trung Quốc, Bắc Thái lan, Miến Điện và Đông Bắc Ấn độ. Khu vực rộng lớn này có những đặc trƣng khác biệt, trong đó cƣ dân thích ứng với lối sống và hệ canh tác nông nghiệp ở vùng núi, rất đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ nhƣng có điểm chung là nhiều tộc ngƣời đến định cƣ ở khu vực này do phải trốn tránh sự bành chƣớng của các nhà nƣớc dân tộc, nhất là chủ nghĩa bành chƣớng Đại Hán.

Các cƣ dân này có xu hƣớng thiên về cố kết tộc ngƣời thay vì hội nhập vào quốc gia dân tộc mà mình đang sinh sống. Các nhà nghiên cứu nhƣ Michaud và Turner (2008) chẳng hạn, đã nhấn mạnh luận điểm cho rằng các tộc ngƣời xuyên biên giới, tiêu biểu nhƣ ngƣời Hmông, quan tâm nhiều hơn đến các mối liên hệ nội tộc của mình thay vì hội nhập sâu vào quốc gia dân tộc mà họ đang sinh sống. Phân tích của các nhà nghiên cứu này dƣờng nhƣ đang cổ súy cho một cách nhìn khu vực biên giới nhƣ những dòng chảy năng động của dân số và xã hội thay vì nhìn nó nhƣ những rào cản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ