Đặt vấn đề tìm hiểu về các tộc ngƣời xuyên biên giới trong mối liên hệ với chiến lƣợc phát triển vùng biên của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc, luận văn nhằm mục tiêu: 1) mang lại những hiểu biết phổ quát về tình hình các tộc ngƣời cƣ trú vắt qua đƣờng biên giới, mối liên hệ lịch sử, kinh tế và xã hội của họ trong thời kỳ hội nhập khu vực; 2) khám phá không gian xã hội vùng biên và những năng động kinh tế xã hội giữa các cƣ dân sống vắt qua đƣờng biên; 3) tìm hiểu chƣơng trình phát triển ở vùng biên của hai nƣớc và tác động của nó lên đời sống của cƣ dân địa phƣơng, đồng thời tìm kiếm những ngụ ý cho các hoạt động thực tiễn phát triển bền vững ở vùng biên. Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam và vùng biên giới Việt – Trung có những đặc điểm lịch sử, văn hóa và dân số học đặc biệt. Trƣớc hết, tại đây có nhiều tộc ngƣời cƣ trú nên có thể đƣợc coi là một khu vực đa dạng văn hóa. Các tộc ngƣời này có nguồn gốc lịch sử và đặc điểm văn hóa khác nhau nhƣng đã cùng chia sẻ một không gian sinh tồn chung trong một cảnh quan địa lý nổi bật là rừng núi và thung lũng.
Vì thế, ngoài những đặc điểm văn hóa ngôn ngữ riêng, họ cũng có nhiều nét tƣơng đồng do quá trình tiếp xúc và cộng cƣ lâu dài. Trên thực tế, các tộc ngƣời này chỉ bị chia cắt bằng một đƣờng biên giới quốc gia mong manh. Ở cả hai bên đƣờng biên, cƣ dân định cƣ trong môi trƣờng sống này đã sáng tạo nên ba hệ canh tác tƣơng đối phổ biến mà đi cùng với nó thƣờng là một lối sống phù hợp: a) hệ canh tác ruộng bậc thang với kỹ thuật dẫn nƣớc be bờ đặc biệt và kỹ thuật ―thổ canh hốc đá‖ của cƣ dân vùng cao; 2) hệ canh tác nƣơng rẫy trên nền đất dốc với kỹ thuật phát đốt và quay vòng đất rừng nhƣ một phƣơng thức sinh tồn chủ đạo của cƣ dân vùng giữa; 3) hệ canh tác lúa nƣớc với lối sống định cƣ tƣơng đối ổn định của cƣ dân vùng chân núi và thung lũng. Đặc điểm thứ hai của vùng biên giới Việt – Trung là vai trò của tộc ngƣời Hoa (Hán) đối với quá trình phát triển các quan hệ giao thƣơng và đô thị dọc vùng biên.
Ngƣời Hoa không phải là cƣ dân gốc của khu vực này, nhƣng ảnh hƣởng của họ trong các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp của cƣ dân trong vùng lại tƣơng đối nổi bật. Điều này có thể quan sát đƣợc từ một thực tế là phƣơng ngữ Hán phía Nam đƣợc xem là một ngôn ngữ giao tiếp phổ biến có vai trò gắn kết các tộc ngƣời trong giao dịch dân sự và kinh tế. Khảo sát các địa danh vùng núi Bắc Việt Nam hiện nay, các nhà ngôn ngữ học tìm thấy phần lớn gốc gác của chúng đều có mối liên hệ với ngôn ngữ gốc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hán (Nguyễn Văn Hiệu, 2007) trong khi các chợ và khu vực thị trấn, thị tứ dọc đƣờng biên đều có thƣơng nhân ngƣời Hoa làm trung gian buôn bán. Đặc điểm thứ ba là sự phát triển các chợ vùng biên nhƣ là điểm giao dịch kinh tế xã hội xuyên biên giới phổ biến của cƣ dân sống trong vùng biên.
Chƣa có số liệu khảo sát chính thức của cả hai bên nhƣng ở phía Việt Nam, từ vùng ven biển Quảng Ninh đến vùng núi Lào Cai đã có trên một trăm điểm đƣợc xác định là các chợ vùng biên, nơi cƣ dân hai bên đƣờng biên giới thƣờng xuyên giao dịch qua lại. Số chợ vùng biên có thể tăng lên nhiều hơn từ sau thời kỳ hội nhập và đƣợc khuyến khích bởi chính sách phát triển vùng biên của cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc. Các chợ vùng biên không chỉ là nơi giao thƣơng kinh tế, nó cũng là nơi giao dịch dân sự, và hoạt động giao lƣu văn hóa thông qua chợ vùng biên có thể đƣợc xem là một đặc điểm riêng biệt của vùng này. Chỉ ra những đặc điểm chính của khu vực biên giới Việt - Trung nhƣ trên, tôi muốn nhấn mạnh rằng vùng biên không chỉ đơn thuần là nơi có đƣờng biên giới chính trị phân định ranh giới giữa các quốc gia.
Vùng biên có những đặc điểm lịch sử, kinh tế và văn hóa rất riêng biệt cần đƣợc khám phá. Trong tiềm thức của ngƣời dân nói chung, các nhà nghiên cứu nói riêng, vùng biên giới vẫn đƣợc hình dung nhƣ là nơi sơn cùng thủy tận, xa xôi hẻo lánh, nhƣ cái cách ngƣời ta vẫn định dạng là ―miền biên viễn‖. Trong lịch sử cổ trung đại, nhà nƣớc phong kiến Trung Hoa thƣờng xem các cƣ dân sống miền biên viễn là man di mọi rợ, khó cai trị. Tƣơng tự nhƣ vậy, dƣới thời phong kiến Việt Nam, các vua chúa cũng thƣờng hình dung miền biên viễn là nơi lam sơn chƣớng khí, khó cai trị trực tiếp nên thƣờng thu phục các tù trƣởng địa phƣơng để thực thi chiến lƣợc bảo toàn lãnh thổ.
Đối với cả hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc thời phong kiến, miền biên viễn cũng là nơi đầy ải tù nhân, nơi những ngƣời nổi dậy chống lại nhà nƣớc phong kiến lẩn tránh sự truy lùng. Đây là nơi những nhân vật hoạt động xuyên biên giới nổi tiếng đƣợc biết đến trong lịch sử nhƣ Nùng Chí Cao, Lƣu Vĩnh Phúc, và cũng là nơi ẩn tích của nhà Mạc. Vào thế kỷ 14, tể tƣớng nhà Trần là Phạm Sƣ Mạnh, trên đƣờng tuần thú xứ Lạng, dừng chân trƣớc Ải Chi Lăng, đã cảm thán về vùng biên trong bài Chi Lăng động bằng câu thơ: Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề (Ải Chi Lăng hiểm trở tựa lên trời) Dƣới thời thực dân, các nhà tù nổi tiếng khắc nghiệt cũng đƣợc lập ra ở vùng biên viễn nhằm đầy ải tù nhân và lao động khổ sai. Tuy nhiên, lịch sử dƣờng nhƣ đã 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổi thay, vùng biên viễn hiểm trở ―tựa lên trời‖ khi xƣa nay đang trở mình thành một khu vực kinh tế đầy năng động với các mối giao lƣu kinh tế, văn hóa và xã hội xuyên biên giới, thu hút một lƣợng lớn cƣ dân ở nhiều nơi đến sinh cơ lập nghiệp.
Sự hƣng khởi của vùng biên không chỉ tạo nên những trung tâm kinh tế - xã hội năng động mà nó cũng làm thay đổi nhận thức về vùng biên trong đời sống xã hội của đất nƣớc. Do đó, nghiên cứu những đổi thay đang diễn ra ở vùng biên có ý nghĩa quan trọng về nhận thức thực tế. Về mặt lý luận khoa học, các tiếp cận học thuật trƣớc đây thƣờng chịu ảnh hƣởng nặng nề của lý thuyết trung tâm và ngoại vi. Lý thuyết này cho rằng vùng biên viễn nói chung thuộc phạm trù ngoại vi.
Vùng này chịu ảnh hƣởng của khu vực trung tâm, nơi đƣợc xem là tạo ra những ảnh hƣởng cả về văn hóa, kinh tế và chính trị đến vùng ngoại vi. Nói cách khác, lý luận này có xu hƣớng cho rằng cƣ dân vùng biên viễn không có năng động kinh tế - xã hội và họ phụ thuộc vào trung tâm. Theo quan điểm này, các nhà nghiên cứu ở cả Việt Nam và Trung Quốc thƣờng cho rằng khu vực đóng đô, đồng thời là trung tâm hành chính, kinh tế của đất nƣớc đƣợc xem là trung tâm còn các vùng xung quanh đƣợc coi là các vùng đệm và các vùng đệm này đƣợc khống chế bởi các vùng trung tâm bằng chính sách, mà sự hƣng yếu của các quốc gia phụ thuộc vào lực khống chế của các trung tâm này (Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung 1994:13). Tuy nhiên, những biến đổi nhanh chóng gần đây ở khu vực biên giới vốn bị coi là ngoại vi kia cho thấy khu vực này có những năng động kinh tế - xã hội và văn hóa riêng làm nền tảng cho phát triển của khu vực.
Cách tiếp cận vùng biên viễn qua lăng kính trung tâm - ngoại vi dƣờng nhƣ đã phủ định những năng động vốn có của cƣ dân địa phƣơng. Mặt khác, nó có xu hƣớng xem xét các nền văn hóa của cƣ dân địa phƣơng từ nhãn quan có thiên kiến chính trị trong giới hạn của đƣờng biên giới chính trị của quốc gia. Thực ra, nhiều tộc ngƣời vùng biên viễn đã tạo ra đƣợc các trung tâm văn hóa riêng của họ, có lịch sử, bản sắc riêng và trung tâm này có thể không phụ thuộc vào sự chia cắt của đƣờng biên giới quốc gia vốn hình thành muộn và không ổn định. Phân tích các năng động kinh tế xã hội của cƣ dân vùng biên và mối liên hệ của nó với trung tâm hành chính quốc gia có ý nghĩa quan trọng giúp khám phá sâu hơn mối quan hệ trung tâm - ngoại vi, những năng động và di động của cƣ dân vùng biên và những yếu tố nào, hƣớng nội hay hƣớng ngoại, đang chi phối nhận thức và làm nên khác biệt trong văn hóa ở vùng biên.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gần đây xuất hiện một xu hƣớng mới xem xét vùng núi Đông Nam Á và Nam Trung Quốc nhƣ một khu vực ―phi nhà nƣớc‖(non-state space) trong lịch sử mà họ gọi là ―Zomia‖ (Willem van Schendel, 2000). Thuật ngữ ―zomia‖ xuất xứ từ một phƣơng ngữ vùng Ấn độ - Miến Điện. Theo đó ―zo‖ là tên gọi ngƣời dân địa phƣơng dùng để chỉ vùng núi rộng lớn bao gồm vùng núi Bắc Việt Nam, Lào, Nam Trung Quốc, Bắc Thái lan, Miến Điện và Đông Bắc Ấn độ. Khu vực rộng lớn này có những đặc trƣng khác biệt, trong đó cƣ dân thích ứng với lối sống và hệ canh tác nông nghiệp ở vùng núi, rất đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ nhƣng có điểm chung là nhiều tộc ngƣời đến định cƣ ở khu vực này do phải trốn tránh sự bành chƣớng của các nhà nƣớc dân tộc, nhất là chủ nghĩa bành chƣớng Đại Hán.
Các cƣ dân này có xu hƣớng thiên về cố kết tộc ngƣời thay vì hội nhập vào quốc gia dân tộc mà mình đang sinh sống. Các nhà nghiên cứu nhƣ Michaud và Turner (2008) chẳng hạn, đã nhấn mạnh luận điểm cho rằng các tộc ngƣời xuyên biên giới, tiêu biểu nhƣ ngƣời Hmông, quan tâm nhiều hơn đến các mối liên hệ nội tộc của mình thay vì hội nhập sâu vào quốc gia dân tộc mà họ đang sinh sống. Phân tích của các nhà nghiên cứu này dƣờng nhƣ đang cổ súy cho một cách nhìn khu vực biên giới nhƣ những dòng chảy năng động của dân số và xã hội thay vì nhìn nó nhƣ những rào cản.