Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về phát triển việc làm cho lao động nông thôn. - Chương 2: Thực trạng phát triển việc làm cho lao động nông thôn tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển việc làm cho lao động nông thôn tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo hướng phát triển bền vững. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan về phát triển việc làm cho lao động nông thôn 1.
Một số khái niệm 1. Lao động - Lao động là hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội (Ph. - Dân số trong độ tuổi lao động: Là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật. Bộ Luật lao động số 10/2012/QH13 quy định người trong độ tuổi lao động là từ 15 tuổi trở lên đến 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam (Hiện nay thực hiện theo Bộ Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 quy định tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035, từ 01/01/2021 tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ).
Theo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế năm 2019, gần 40% số quốc gia có lao động nữ nghỉ hưu trên 60 tuổi và gần 50% nước chọn lao động nam nghỉ hưu trên 60 tuổi (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2019). Việc tăng tuổi nghỉ hưu là xu hướng tất yếu, vì lợi ích chung của sự phát triển và đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội cho tất cả mọi người. Tại một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore., việc tuyển dụng người lao động cao tuổi làm việc không còn là điều xa lạ. Ở Nhật Bản, có thể dễ dàng bắt gặp những lao động cao tuổi ở nơi công cộng.
Chính phủ Nhật Bản quy định tuổi nghỉ hưu là 65 tuổi cho cả nam và nữ. Tuy được đánh giá là khá cao so với độ tuổi nghỉ hưu ở các nước khác, nhưng phần lớn người lao động Nhật Bản vẫn tiếp tục làm việc khi đã vượt 8 quá độ tuổi này. Tại Singapore, một trong những nền kinh tế giàu nhất châu Á, đang chứng kiến tốc độ già hóa nhanh thứ hai thế giới chỉ sau Hàn Quốc, Tỷ lệ người từ 65 tuổi tham gia thị trường lao động đã tăng đến 27% trong năm 2018. Trước thực trạng dân số ngày càng già hóa, chính phủ Singapore đang nỗ lực hỗ trợ các công ty giữ chân người lao động làm việc qua tuổi nghỉ hưu.
Hiện, độ tuổi nghỉ hưu chính thức của Singapore là 62, tuy nhiên, mọi công ty đều phải có một điều khoản là cho phép người lao động được lựa chọn tiếp tục làm việc cho tới 67 tuổi (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2019). - Lao động nông thôn: Lao động nông thôn là những đối tượng thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Việc làm Theo Phạm Thị Hạnh (Tạp Chí Cộng sản, ngày 21/02/2020) thì “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” và “Việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó”. Theo ILO, việc làm là những hoạt động lao động được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.
Theo Bộ Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 thì: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm; Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (Vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,.) để sử dụng sức lao động đó. Các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: Các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền mặt hoặc hiện vật; những công việc tự làm để tạo thu 9 nhập cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (Bằng tiền mặt hoặc hiện vật) cho công việc đó. Năm 1999, Tổ chức Lao động Thế giới ILO, theo đề nghị của Tổng Giám đốc ILO, tại Hội nghị quốc tế lao động đã thông qua một chương trình đặc biệt để cải tổ ILO với 4 mục tiêu cơ bản trong đó vấn đề phát triển việc làm bền vững được xem là giải pháp cấp bách.
Việc làm bền vững là việc làm có năng suất, chất lượng cho nam giới và nữ giới trong điều kiện tự do, bình đẳng, an toàn và nhân phẩm được tôn trọng. Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”. - Việc làm được phân loại như sau Phân loại theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm: + Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. + Việc làm phụ là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau việc làm chính.
Phân loại theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất và thu nhập. + Việc làm đầy đủ: Là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập. + Việc làm có hiệu quả: Là việc làm với năng suất, chất lượng cao.
Đảm bảo mức sống tối thiểu theo quy định của pháp luật đối với từng ngành nghề lĩnh vực cụ thể. - Thiếu việc làm: Khi cung lao động không được khai thác và sử dụng hết sẽ xảy ra tình trạng thiếu việc làm. Theo ILO người thiếu việc làm là người có số giờ làm việc dưới mức quy định 10 chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm (ILO, năm 2003). Theo các tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì “Người thiếu việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định và họ có nhu cầu làm việc” (Bộ Luật Lao động, 2012).
Thất nghiệp Thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quả (LIO, 2013). Thất nghiệp là hiện tượng xã hội hình thành khi cung, cầu lao động không cân bằng. Trong bất kỳ nền kinh tế nào dù có sử dụng lao động đến mức tốt nhất thì xã hội vẫn tồn tại thất nghiệp. Lao động nông thôn 1.
Khái niệm Hiện tại, chưa có cách tiếp cận thống nhất về khái niệm lao động nông thôn. Có tác giả cho rằng “Lao động nông thôn là toàn bộ những người có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng tham gia lao động nhưng chưa tham gia lao động) thuộc khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn” (Vũ Thị Bình, Giáo trình Quy hoạch phát triển nông thôn, 2010). Cũng có tác giả khác cho rằng “Lao động nông thôn gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lý do nào đó hiện tại chưa tham gia lao động (Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, 1996). Tuy nhiên, trong nội dung luận văn này, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm lao động nông thôn dựa trên một số đặc điểm cơ bản sau: 11 + Số lượng lớn.
Theo Báo cáo điều tra Lao động việc làm quý 2 năm 2017 của Tổng Cục thống kê: trong tổng số hơn 53,4 triệu lao động có việc làm của cả nước, lao động khu vực nông thôn chiếm khoảng 68,2% (tương ứng khoảng 36,4 triệu người) và lao động nữ chiếm khoảng 48,2% (tương ứng 25,7 triệu người). + Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, không được đào tạo cơ bản. Ngoài ra, họ tham gia sản xuất, phục vụ nông nghiệp: bán giống, cây con, thuốc bảo vệ thực vật,… + GDP/đầu người thấp: Nông thôn là khu vực trong đó nông nghiệp là hoạt động chủ yếu của người dân. Nông nghiệp là ngành lao động nặng nhọc và thu nhập thấp, rủi ro cao.
Vì vậy điều kiện sản xuất và sinh hoạt của người dân rất khó khăn, hầu hết thu nhập của họ chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chỉ dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu. + Tính thời vụ: Lao động trong nông nghiệp, nông thôn (đặc biệt là bộ phận lao động sản xuất trực tiếp) làm việc có tính chất thời vụ do đặc thù của nghề nông. Đối tượng của nghề nông là cây trồng, vật nuôi, chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng, vật nuôi ở những địa phương có điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau.
Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh viễn, chúng ta chỉ có thể tìm cách giảm tính thời vụ chứ không thể xóa bỏ được.