CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Văn hóa và văn hóa kinh doanh Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người .Trong lịch sử loài người, xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về các hoạt động của loài người như: Ngay từ những năm 1942-1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [10, t3, tr431] Năm 1970, nghĩa là gần 30 năm sau thời điểm Hồ Chí Minh viết những lời này, tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Vơ-ni-dơ (I-ta-li-a), UNESCO đã thừa nhận khái niệm do Ph. Mayor) - nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”.
[11] Theo như GS.TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội” [12, tr27] Văn hóa là một trong những sản phẩm của loài người, nó được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội .Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa là trình độ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các hình thức tổ chức đời sống và hành động cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra. Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nhất: “ Văn hóa là toàn bộ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người được sáng tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường xung quanh (môi trường tự nhiên và xã hội) và tính cách của từng tộc người. Văn hóa ảnh hướng tới tình cảm, ý nghĩ và hành vi của con người” Càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người và sự tham gia đó ngày càng được thể hiện rõ nét và thành các lĩnh vực văn hóa đặc thì như văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình… và văn hóa kinh doanh.
Theo Từ điển tiếng Việt, “kinh doanh” được hiểu là “tổ chức việc sản xuất buôn bán sao cho sinh lời”. Với nghĩa phổ thông này từ “kinh doanh” không những có nghĩa “buôn bán” mà còn bao hàm cả nghĩa “tổ chức việc sản xuất”. Vậy có thể hiểu văn hóa kinh doanh là lối ứng xử của cá nhân, tổ chức làm kinh tế với tất cả những gì liên quan, phù hợp với xu thế thời đại. Do vậy, theo nghĩ hẹp có thể hiểu: “Văn hoá trong kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực”.2 Văn hóa doanh nghiệp Qua nghiên cứu về văn hoá nói chung, đặc biệt là nghiên cứu về văn hoá của các bộ lạc thời kỳ trước đây, người ta thấy rằng, mỗi một bộ lạc đều có một văn hoá riêng biệt, trong đó, họ thường có một vật truyền của bộ lạc mình, ví dụ như việc tôn thờ một vị thần hoặc tin vào một sức mạnh siêu phàm nào đó trong tự nhiên.
Mỗi một bộ lạc duy trì hoạt động của thành viên mình bằng cách ban ra các điều cấm kị hoặc những nguyên tắc khắt khe bắt buộc thành viên này đối xử với các thành viên khác trong bộ lạc và với một người xa lạ từ một bộ lạc khác ra sao. Bất kỳ một cá nhân nào không tuân thủ lập tức sẽ bị trừng trị theo luật lệ hà khắc của bộ lạc, bị giết hoặc làm mồi cho thú giữ. Đối với tổ chức hay một doanh nghiệp bất kỳ nào cũng sẽ đề ra các qui tắc riêng cho hoạt động của mình, bao gồm các quy tắc và chuẩn mực bắt buộc, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những lễ nghi và thủ tục cần thiết khi thực hiện một công việc nào đó. Chúng được phát triển theo thời gian và làm toát lên những đặc điểm cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp đó.
Cũng như văn hoá, VHDN có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh nó. Tất cả các khái niệm đó sẽ giúp chúng ta hiểu về VHDN một cách toàn diện và đầy đủ hơn: Theo quan điểm của George De Sainte Marie - chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp” [15, b] Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [15, b] Theo quan điểm của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” [15, h] Theo quan điểm của hai học giả là Rolff Bergman và Ian Stagg đồng thời là giảng viên của khoa quản trị kinh doanh trường đại học Monash - Úc cho rằng: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa biểu đạt chung bao trùm lên toàn bộ doanh nghiệp, có tính chất quyết định tới mọi hành vi và hoạt động của toàn bộ các thành viên trong doanh nghiệp đó” [15, g] Tóm lại, Văn hóa doanh nghiệp là những quy phạm chung nhất của một doanh nghiệp, nó định hướng cho một doanh nghiệp và tạo nên những giá trị khác biệt giữa các doanh nghiệp. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về văn hoá doanh nghiệp, nhưng qua một số những cách hiểu trên, chúng ta có thể rút ra một khái niệm khái quát nhất: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọt thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sác kinh doanh riêng của doanh nghiệp” [4, Tr234] 1.2 Các nội dung lý luận liên quan đến phát triển văn hóa doanh nghiệp 1.1 Các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp Những quá trình và cấu trúc hữu hình của văn hóa doanh nghiệp Kiến trúc đặc trưng: Bao gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất, đây là một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá trị văn hóa rất quan trọng, vì tại mỗi doanh nghiệp điều đầu tiên mà khách hàng và đối tác cảm nhận được khi đến làm việc là kiến trúc công ty, nó thể hiện hình ảnh và bộ mặt của công ty trong những mối quan hệ lâu dài sau này. Phần lớn những công ty thành đạt hay đang phát triển hoặc muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự khác biệt, thành công và sức mạnh của họ bằng những công trình kiến trúc đặc biệt và đồ sộ, đó chính là biểu tượng hình ảnh, thể hiện tính cách và bản sắc riêng về doanh nghiệp.
Bên cạnh đó những thiết kế nội thất cũng rất được quan tâm, từ những chi tiết lớn như tiêu chuẩn về màu sắc, kiểu dáng của bao bì đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng làm việc, quầy, bàn ghế, phòng làm việc, giá để hàng, lối đi, trang phục. đến các chi tiết nhỏ như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong phòng vệ sinh…tất cả đều được thiết kế sao cho tiện ích dễ sử dụng, tạo ấn tượng thân quen thể hiện thiện trí và sự quan tâm. Nghi lễ, nghi thức: Là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hóa-xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được tổ chức định kỳ hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ trong doanh nghiệp, giới thiệu về những giá trị được doanh nghiệp coi trọng và thường được tổ chức vì lợi ích của những người tham dự. Có bốn loại nghi lễ cơ bản: Nghi lễ chuyển giao, nghi lễ củng cố, Nghi lễ nhắc nhở, nghi lễ liên kết.
Biểu tượng: Các công trình kiến trúc, lễ nghi, giá thoại, khẩu hiệu đều chứa đựng những đặc trưng của biểu tượng, bởi thông qua những giá trị vật chất, cụ thể, hữu hình, các biểu trưng này đều muốn truyền đạt những giá trị, ý nghĩa tiềm ẩn bên trong. Một biểu tượng khác là logo hay một tác phẩm sáng tạo được thiết kế để thể hiện về hình tượng của một tổ chức, một doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ thuật phổ thông. Các biểu tượng vật chất này có tác dụng hướng sự chú ý của người thấy nó vào một vài chi tiết hay điểm nhấn cụ thể có thể diễn đạt được những giá trị chủ đạo mà tổ chức doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng, lưu lại hay truyền đạt cho người thấy nó.