phần mở đầu, kết luận, danh mục các ký hiệu từ viết tắt, danh mục các bảng phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng phát triển văn hoá doanh nghiệp trong Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dƣơng Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm phát triển VHDN ở Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dƣơng 13 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp và phát triển văn hóa doanh nghiệp Văn hóa - nhƣ có học giả đã nói, đó là cái cân bằng khi xã hội có nhiều nguy cơ biến động. Hoặc có thể hiểu nôm na rằng, mọi vật chất có thể mất đi, cái còn đọng lại chính là văn hóa.
Bất kể quốc gia nào, tổ chức nào, giáo phái nào muốn trƣờng tồn thì phải có văn hóa riêng và doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh trên một môi trƣờng ngày càng phẳng, văn hóa doanh nghiệp càng trở nên quan trọng. Văn hóa doanh nghiệp hiện nay đang là đề tài tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn của giới doanh nghiệp, các nhà quản lý và trên phƣơng tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, văn hóa doanh nghiệp là gì, thì không phải doanh nghiệp nào cũng thấu hiểu, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trƣớc hết, khái niệm văn hóa doanh nghiệp nói riêng và văn hóa nói chung là rất khó phân định, bởi có đến hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Song, có thể hiểu văn hóa theo các cách sau: Theo ngôn ngữ của phƣơng Tây, thì văn hóa có nghĩa là tạo dựng, giữ gìn và chăm sóc. Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa đƣợc đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất, đó là bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con ngƣời. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất.
Theo đó, có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp nhƣ là các giá trị tinh thần, vật chất và tri thức… đƣợc xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, trở thành quan niệm, tập quán, truyền thống của doanh nghiệp đó. Trên thế giới có một số định nghĩa văn hoá doanh nghiệp nhƣ sau: 1. Phẩm chất riêng biệt của tổ chức đƣợc nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực. Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hƣớng tự lƣu truyền, thƣờng trong thời gian dài.
Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tƣơng đối ổn định trong doanh nghiệp. Ông Georges de Saite Marie, chuyên gia ngƣời Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã đƣa ra định nghĩa sau: “Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.18] Trong tiểu luận này, tôi hiểu văn hoá doanh nghiệp có nội hàm là: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó’’.19] Cũng nhƣ văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trƣng cụ thể riêng biệt. Trƣớc hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những ngƣời cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Nó xác lập một hệ thống các giá trị đƣợc mọi ngƣời làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó.
Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và đƣợc coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp. Phát triển văn hóa doanh nghiệp là giai đoạn duy trì và làm tăng thêm chất lƣợng, hiệu quả, vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp. Các cấp độ văn hóa doanh nghiệp (Edgar H. Schein) Văn hóa doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ dễ nhận biết đến ẩn sâu trong tiềm thức của tập thể mà phải qua thời gian dài mới hình dung ra đƣợc.Schein, văn hoá doanh nghiệp có thể chia thành 3 mức độ khác nhau.
15 Những sản phẩm Cấp độ thứ nhất hữu hình của doanh nghiệp Những tƣ tƣởng giá Cấp độ thứ hai trị mà doanh nghiệp tuyên bố, chia sẻ giá trị Những giả định nền Cấp độ thứ ba tảng của doanh nghiệp Hình 1. Sơ đồ các cấp độ văn hoá doanh nghiệp 1. Cấp độ thứ nhất: Những sản phẩm hữu hình của Doanh nghiệp Bao gồm những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp bao gồm tất cả những hiện tƣợng và sự vật mà một ngƣời có thể nhìn, nghe và cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ nhƣ: Kiến trúc, cách bài trí, công nghệ, sản phẩm; Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; Lễ nghi và lễ hội hàng năm; Các biểu tƣợng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp; Ngôn ngữ, cách ăn mặc, phƣơng tiện đi lại, chức danh, cách bộc lộ cảm xúc, hành vi ứng xử thƣờng thấy của các thành viên và các nhóm làm việc trong doanh nghiệp; Những câu chuyện và huyền thoại về tổ chức; Hình thức mẫu mã của sản phẩm; Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên doanh nghiệp. Đặc trƣng cơ bản của lớp văn hoá này là rất dễ nhận thấy nhƣng lại rất khó giải đoán đƣợc ý nghĩa đích thực, cũng giống nhƣ đối với những Kim tự tháp của ngƣời Ai Cập cổ và ngƣời Maya, là ngƣời đứng ngoài quan sát chúng ta chỉ có thể nhận ra chúng đều là những Kim tự tháp có hình dạng giống nhau, chứ không hiểu đƣợc ý nghĩ bên trong khác nhau của chúng: đối với ngƣời Ai cập cổ thì Kim tự tháp là lăng mộ của các vị vua Pharaon; trong khi đối với ngƣời Maya thì Kim tự 16 tháp lại là vừa là lăng mộ vừa là chốn đền thờ linh thiêng.
Nói cách khác, ngƣời quan sát có thể mô tả những gì họ nhìn thấy và cảm thấy khi bƣớc chân vào một doanh nghiệp nhƣng lại không hiểu đƣợc ý nghĩa thực sự ẩn sau nó (chính là lớp văn hoá thứ ba). Để hiểu đƣợc ý nghĩa đó họ phải thực sự hoà nhập vào cuộc sống trong doanh nghiệp một thời gian đủ dài và cách tốt nhất là tìm hiểu những giá trị, thông lệ và quy tắc đƣợc thừa nhận trong doanh nghiệp, vốn là kim chỉ nam cho hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp đó. Trên cơ sở đó, có thể chia lớp thứ nhất thành các nội dung sau: 1. Cách trang trí doanh nghiệp, đồng phục, các khẩu hiệu, bài ca của doanh nghiệp, tập quán, tôn giáo cũng nhƣ các truyền thuyết, giai thoại về các nǎm tháng gian khổ và vinh quang của doanh nghiệp, về nhân vật anh hùng của doanh nghiệp (nhất là hình tƣợng ngƣời thủ lĩnh khởi nghiệp).
Các nếp ứng xử giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau. Các hành vi giao tiếp đối với khách hàng và đối tác kinh doanh. Cấp độ thứ hai: những tư tưởng, giá trị mà doanh nghiệp công bố, chia sẻ. Bao gồm các giá trị đƣợc chấp nhận bao gồm những chiến lƣợc, mục tiêu và các triết lý của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các vấn đề để thích ứng với bên ngoài và hội nhập vào bên trong tổ chức.
Những ngƣời khởi xƣớng, sáng lập ra doanh nghiệp và nhà lãnh đạo kế cận khi đề ra các quy định, nguyên tắc, triết lý, tƣ tƣởng. đều yêu cầu mọi thành viên phải tuân theo. Trải qua thời gian áp dụng, các quy định, nguyên tắc, triết lý, tƣ tƣởng. đó sẽ dần trở thành niềm tin, thông lệ và quy tắc ứng xử chung mà mọi thành viên đều thấm nhuần, tức là trở thành “những giá trị đƣợc chấp nhận”.
Những “giá trị đƣợc chấp nhận” cũng có tính hữu hình vì ngƣời ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác. Chúng thực hiện chức năng hƣớng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với một số tình thế cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các thành viên mới trong môi trƣờng doanh nghiệp. Hệ thống các giá trị này trở thành hiện thân của triết lý kinh 17 doanh và là kim chỉ nam cho doanh nghiệp khi phải đối phó với những tình huống khó khăn. Những nguyên tắc và giá trị mà tổ chức phấn đấu đạt tới.
Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp. Cấp độ thứ ba: Những giả định nền tảng của doanh nghiệp (những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp) Trong bất kỳ hình thức văn hoá nào (văn hoá dân tộc, văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp,…) cũng đều có các quan niệm chung, đƣợc tồn tại trong thời gian dài, chúng ăn sâu vào trong tâm trí của hầu hết tất cả các thành viên thuộc nền văn hoá đó và trở thành điều mặc nhiên đƣợc công nhận. Để hình thành đƣợc các quan niệm chung này, bất kỳ cộng đồng văn hoá cũng phải trải qua một quá trình hoạt động lâu dài, trải qua sự va chạm và xử lý các tình huống thực tiễn, phải trải qua quá trình tích luỹ sự nếm trải những thành công và thất bại. Chính vì vậy khi đã hình thành, các quan niệm chung rất sẽ khó bị thay đổi.
Ví dụ, sự bình đẳng nam - nữ vẫn là mục tiêu mà nhiều quốc gia trên các châu lục đều hƣớng tới bởi vì quan điểm trọng nam khinh nữ vốn đã trở thành quan niệm chung của nhiều quốc gia. Khi một doanh nghiệp đã hình thành cho mình đƣợc quan niệm chung, tức là các thành viên trong doanh nghiệp cùng nhau chia sẻ và hành động theo quan niệm chung đó, họ rất khó chấp nhận những hành vi đi ngƣợc lại với quan niệm chung. Ví dụ, cùng vấn đề trả lƣơng cho ngƣời lao động, các công ty Mỹ và hầu hết các công ty Châu Âu trả lƣơng theo năng lực làm việc của ngƣời lao động, do vậy ngƣời trẻ có năng lực thực sự hoàn toàn có thể có mức lƣơng cao hơn ngƣời lớn tuổi và có thâm niên.