Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CƠ SỞ 1. Một số vấn đề lý luận về chính sách công Trong cuốn sách Khoa học chính trị, Michael G.Roskin định nghĩa "Chính trị học là khoa học về đấu tranh và cạnh tranh quyền lực chính trị". Trong cuộc đấu tranh đó, công cụ chính sách đóng một vai trò hết sức quyết định tới sự thành bại của đường lối chính trị. Từ đó, chúng ta có thể hiểu: "Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ.
Nó bao gồm các mục tiêu kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó”. Theo từ điển tiếng Việt (1988) “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị và tình hình thức tế mà đề ra” hay “Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội". [20] Với các cách tiếp cận trên đây, có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Chính sách công là một trong những công cụ quan trọng của quản lý nhà nước, thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa.
Chủ thể ban hành chính sách công chính là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách 10 công được các học giả đưa ra. Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng. Thomas Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là: “bất kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[18].
Theo William Jenkins chính sách công là: “Một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”[18]. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung về chính sách công như sau: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” ”[18]. Các lĩnh vực của đời sống văn hóa cơ sở Như đã nói ở trên, lĩnh vực văn hóa cơ sở bao gồm các nội dung sau: Thiết chế văn hóa cơ sở, Nếp sống văn hóa, Nghệ thuật quần chúng, Tuyên truyền cổ động, Quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Trong mục này, luận văn sẽ giới thiệu nội dung của các khái niệm cơ bản trên.
Khái niệm đời sống văn hóa cơ sở - Khái niệm "Văn hoá" Cho đến nay thuật ngữ "văn hoá" vẫn được coi là một thuật ngữ khó xác định và có nội dung rất phong phú. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà khoa học đưa ra rất nhiều định nghĩa về văn hoá. Trong các khái niệm, định nghĩa về văn hoá có 2 khái niệm, định nghĩa quan trọng sau: 11 Theo Ông Federico Mayor (nguyên Thư ký Tổ chức UNESCO) trong lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá (1988) đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ, lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”. Định nghĩa Văn hóa của Hồ Chí Minh thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn.
Bác Hồ đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [26] Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất, tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên.
- Khái niệm “Đời sống văn hóa” Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người, đó là sự tích lũy, sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất, trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi con người, trong mỗi gia đình và cộng đồng, nhằm định hướng cho lối sống, đạo đức trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên, hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. 12 - Khái niệm “Đơn vị cơ sở” Đơn vị cơ sở là một kiểu tổ chức cơ bản của xã hội, là địa bàn mà những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người diễn ra trong đời sống hằng ngày. Đơn vị cơ sở có hai đặc điểm nhận biết chính là: địa bàn sống ổn định và có tổ chức hành chính ổn định. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, đơn vị cơ sở được nhắc đến là: làng, xã, phường ấp, nhà máy, công trường, nông trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan trường học, bệnh viện, cửa hàng và cộng đồng xã hội tương đương.
Đơn vị cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội là nơi thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, đây cũng là nơi để nhân dân xây dựng đời sống văn hóa và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sáng tạo ra những văn hóa mới. Vai trò của phát triển đời sống văn hoá cơ sở Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta được đặt ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981). Đây là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hoá, lối sống và con người phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Văn kiện Đại hội V Đảng ta đã nhấn mạnh: Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng văn hoá là đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân.
Đặc biệt chú trọng xây dựng và phát triển đời sống văn hoá cơ sở. Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương khoá VIII, Văn kiện Đại hội XI và XII của Đảng ta nêu rõ: Phải đảm bảo phần lớn cho đơn vị cơ sở đều có hoạt động văn hoá, nhân dân lao động được đọc báo, nghe đài, xem phim, xem nghệ thuật. Đặc biệt chú ý đến 13 vùng cao và biên giới. Theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, cần củng cố và xây dựng các cơ sở ở cấp tỉnh và cấp huyện: Nhà văn hoá, thư viện, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm ở phường, xã hay cụm kinh tế, kỹ thuật từng bước xây dựng cơ sở văn hoá tuỳ theo thực tế cơ sở.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng và chủ trương của Nhà nước từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương khoá XII (1993), Bộ Văn hoá và Thông tin (nay là Bộ VHTT & DL) đã xây dựng 3 chương trình quốc gia đó là: Bảo tồn tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá; chấn hưng nền điện ảnh Việt Nam và xây dựng nền văn hoá cơ sở, trong đó chú trọng vấn đề gia đình văn hóa, làng văn hoá, nếp sống văn minh đô thị. Điều đó khẳng định thêm vai trò, vị trí quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài của xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đó là: - Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá của nhân dân lao động, đồng thời thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào quá trình sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới. - Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được coi như bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới, xây dựng một lối sống văn minh, lịch sự, những thuần phong, mỹ tục tốt đẹp vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa phù hợp tinh hoa văn hoá tiến bộ của nhân loại.
Đấu tranh chống những hiện tượng và hành vi thô bạo, lai căng, phản văn hoá, phi đạo đức. Thiết chế văn hóa cơ sở Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho các thiết chế đó”. Chủ trương của Đảng ta khẳng định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội.