Mở đầu: Giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phƣơng pháp nghiên cứu và bố cục của luận án. - Chƣơng một: Cơ sở lý luận về sự phát triển của từ vựng và phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng hai: Bức tranh chung về sự phát triển của từ vựng tiếng Việt ba mƣơi năm đầu thế kỷ XX. - Chƣơng ba: Phát triển từ vựng giai đoạn 1900-1930 bằng con đƣờng cấu tạo từ và phát triển nghĩa.
- Chƣơng bốn: Phát triển từ vựng giai đoạn 1900-1930 bằng con đƣờng vay mƣợn từ. - Kết luận: Luận án sẽ trình bày những kết luận rút ra đƣợc trong quá trình nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG.
Ngôn ngữ là hiện tƣợng xã hội. Với chức năng là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời, ngôn ngữ luôn luôn tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội sử dụng nó. Sự đấu tranh sinh tồn của con ngƣời đã thúc đẩy xã hội phát triển, kéo theo sự phát triển của ngôn ngữ ở mọi cấp độ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng. Tuy nhiên, so với ngữ âm và ngữ pháp thì từ vựng là bộ phận phát triển nhanh nhất bởi vì nó là tấm gƣơng phản chiếu đời sống xã hội.
Tìm hiểu sự phát triển từ vựng-ngữ nghĩa của một ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học luôn đề cập đến những nhân tố tác động đến sự biến đổi của hệ thống từ vựng. Có nhà ngôn ngữ học đã viết: "Không một môn nào mà những nhân tố biến đổi của các hiện tƣợng lại phức tạp, nhiều và đa dạng hơn từ vựng" [177, tr. Các nhân tố tác động đến sự phát triển của từ vựng thƣờng đƣợc đề cập tới là: Nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong ngôn ngữ. Những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ Nhóm nhân tố đầu tiên các nhà từ vựng học thƣờng đề cập tới là các nhân tố khách quan nằm ngoài ngôn ngữ.
Đó là những nhân tố thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội; chẳng hạn sự biến động về lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế. tất thảy đều tác động đến sự phát triển hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ. Các cuộc chiến tranh xâm lƣợc, các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, công cuộc xây dựng xã hội. cũng tác động đến sự phát triển của từ vựng và đƣợc phản ánh trong từ vựng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo phép duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tƣợng trong thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Chính sự vận động và phát triển của thế giới vật chất ấy đã làm xuất hiện nhiều sự vật, hiện tƣợng mới, đòi hỏi từ vựng phải có những đơn vị từ ngữ mới để định danh hoặc tái định nghĩa lại các khái niệm vốn đã có trong ngữ năng của một thành viên xã hội. Nhƣ vậy, sự phát triển của xã hội yêu cầu ngôn ngữ phải chính xác hoá cái khái niệm mà ngôn từ mang chứa nó. Yêu cầu đó của xã hội bắt buộc ngôn ngữ phải tuân theo tiến trình trí tuệ hoá.
Nói khác đi, chính nội dung, cái đƣợc mang chở bằng phƣơng tiện ngôn từ, buộc ngôn ngữ phải đáp ứng nhu cầu giao tiếp ngày càng cao của con ngƣời. Xã hội là một cấu trúc vừa hƣớng nội vừa hƣớng ngoại từ khi hình thành dân tộc. Vì vậy, các nhu cầu của xã hội luôn nảy sinh, sự phát triển ngôn ngữ đã trở thành nhu cầu cần yếu của mọi xã hội. Nghiên cứu sự phát triển từ vựng của một ngôn ngữ, dƣờng nhƣ các nhà ngôn ngữ học đều đồng ý rằng trong quá trình tiến triển của một dân tộc, dân tộc đó phát triển mạnh về lĩnh vực nào (chính trị, văn hoá, nghệ thuật,.) thì vốn từ vựng của ngôn ngữ mà dân tộc đó sử dụng sẽ xuất hiện những đơn vị từ ngữ mới thuộc các lĩnh vực khoa học đó.
Điều này có thể đƣợc minh chứng ngay trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Cuối thế kỷ XIX, tri thức về các lĩnh vực khoa học tự nhiên ở nƣớc ta còn quá thấp, do vậy các từ ngữ chuyên môn thuộc các lĩnh vực này còn quá ít. Tuy nhiên, do những biến động của xã hội, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là thập kỷ X và thập kỷ XX, xã hội Việt Nam đã bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến phƣơng Tây; chúng ta đã thấy trong vốn từ vựng tiếng Việt xuất hiện các từ ngữ Hán - Việt, thuần Việt hoặc từ ngữ gốc Pháp chỉ các sự vật, hiện tƣợng mới. Ví dụ: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 - Các từ ngữ thuộc lĩnh vực vật lý: Máy trục không khí, máy ép không khí, dây thu lôi, máy hơi nước, ống sinh điện, gương tròn hình quả cầu (gương lồi), cử động đều (chuyển động đều) - Các từ ngữ thuộc lĩnh vực hoá học: Thán khí, kim chất, đạm cường toan, si măng (xi măng), cường thuỷ (acide acitique), acide sufurique - Các từ ngữ thuộc lĩnh vực địa lý: Địa chất học, đường xích đạo, hoành tuyến, trục tuyến.
- Các từ ngữ thuộc lĩnh vực toán học: Quy nhất số, hình ba giác (tam giác), đường ngang hàng (song song), hình thoi, đường thẳng nghiêng. Trong sự phát triển của từ vựng, lớp từ thông thƣờng phát triển rất chậm. Bởi lẽ, chúng vốn là lớp từ cơ bản, phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày của những ngƣời lao động. Trái lại, lớp từ chuyên môn (thuật ngữ) lại phát triển rất nhanh.
Sở dĩ nhƣ vậy là vì thuật ngữ "đƣợc xem nhƣ bức tranh phản chiếu, là diện mạo toàn cảnh từ ngữ ghi dấu, trạng thái tri thức, trạng thái sáng tạo, tiếp biến của một dân tộc trong từng thời kỳ tiến hoá và phát triển ngày càng đi lên, ngày càng tiến bộ của nhân loại" [133]. Thật có lý khi có ý kiến cho rằng chỉ cần nhìn vào hệ thống thuật ngữ của một ngôn ngữ, chúng ta có thể biết xã hội đang sử dụng ngôn ngữ đó phát triển đến mức nào. Bàn về sự phát triển của từ vựng, Xtalin đã nhấn mạnh: "Sự phát triển liên tiếp của công nghiệp và nông nghiệp, của thƣơng nghiệp và vận tải, của kỹ thuật và khoa học, đòi hỏi ngôn ngữ phải bồi bổ từ vựng của mình bằng những từ mới và những ngữ mới” [93, tr. Một nhân tố khác cũng không kém phần quan trọng trong việc thúc đẩy từ vựng phát triển là hiện tƣợng tiếp xúc ngôn ngữ.
Sự tiếp xúc ngôn ngữ do TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể do các dân tộc khác nhau cùng cƣ trú rất gần nhau trên cùng một địa bàn, đã có giao lƣu về các mặt: kinh tế, văn hoá, thƣơng mại. Một ngôn ngữ A khi có sự tiếp xúc với ngôn ngữ B không thể tránh khỏi những ảnh hƣởng nhất định. Cũng nhƣ các nền văn hoá, bản thân mỗi ngôn ngữ không phải bao giờ tự chúng đã đầy đủ.
Nhu cầu giao lƣu về các lĩnh vực khiến cho những ngƣời nói ngôn ngữ A trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp xúc với những ngƣời nói ngôn ngữ B ở vùng lân cận hoặc một ngôn ngữ C có ƣu thế về mặt văn hoá, kinh tế. Sự giao lƣu có thể có tính chất hữu nghị hoặc thù địch, có thể do quan hệ bình thƣờng hoặc kinh doanh buôn bán. Dù cho tính chất hay mức độ của sự tiếp xúc giữa các dân tộc thế nào đi nữa, thì vẫn dẫn đến sự ảnh hƣởng qua lại ít nhiều giữa các ngôn ngữ. Thông thƣờng, ảnh hƣởng ấy nghiêng về một phía.
Dân tộc nào có nền văn hoá, kinh, tế, khoa học kỹ thuật. phát triển hơn thì ngôn ngữ của dân tộc đó sẽ tạo ra ảnh hƣởng nhiều hơn đối với các ngôn ngữ khác: Chẳng hạn, ngay từ nhiều thế kỷ trƣớc, tiếng Hán đã có ảnh hƣởng rất lớn đến tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Minh chứng là trong vốn từ vựng của tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Nhật hiện nay đều có trên 60% từ ngữ vay mƣợn từ tiếng Hán. Việc tiếp xúc ngôn ngữ đƣợc tiến hành do những ngƣời sử dụng song ngữ.
Hiện tƣợng song ngữ không phải là cá biệt cho một ngôn ngữ và không phải diễn ra chỉ trong một thời gian ngắn. Nó là hiện tƣợng thƣờng xuyên xẩy ra đối với hầu hết mọi tộc ngƣời. Mọi dân tộc đều có những ngƣời mang song ngữ. Đó là các trí thức, nhà văn, nhà khoa học, nhà chính trị học.
sử dụng ngoại ngữ. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc. Bên cạnh nguyên nhân do quan hệ về địa lý, hiện tƣợng song ngữ còn xảy ra do quan hệ giữa những ngƣời của dân tộc đi chinh phục và những ngƣời của dân tộc bị chinh phục. Cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Việt Nam đã tồn tại hiện tƣợng song ngữ: tiếng Việt và tiếng Pháp.
Chính đội ngũ sử dụng song ngữ Pháp - Việt đã du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt nhiều từ ngữ mƣợn từ tiếng Pháp. Ví dụ: Cà phê, xà phòng, cu lít, (đèn) pha, lốp, xu. Hiện tƣợng song ngữ còn xảy ra do nhu cầu văn hoá. Chẳng hạn tiếng Pali vào Đông Nam Á cùng với Phật giáo, tiếng Sanscrit vào Đông Nam Á với Ấn Độ giáo và văn minh Ấn Độ.
Khi một dân tộc phát triển thành một Nhà nƣớc, bắt buộc phải xây dựng một cơ chế mới về xã hội, chính trị. Lúc đó, vốn từ của ngôn ngữ dân tộc thƣơng không đủ để đáp ứng cho nhu cầu mới. Do đó, sự vay mƣợn từ ngữ càng thiết yếu hơn bao giờ hết. Sự ra đời của Nhà nƣớc Champa, Nhà nƣớc Việt Nam, Nhà nƣớc Ăng Co,.
dẫn đến sự ra đời của ngôn ngữ văn học bằng ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Khi ngôn ngữ chuyển từ chỗ là công cụ sinh hoạt sang công cụ điều hành chính trị, tổ chức xã hội, củng cố chính quyền thì hiện tƣợng song ngữ có chiều hƣớng thu hẹp về chiều rộng để phát triển chiều sâu. Sự vay mƣợn từ ngữ từ ngôn ngữ khác là sự vay mƣợn có ý thức, có hệ thống do tầng lớp trí thức thực hiện. Sự vay mƣợn lúc đó là nhu cầu nội tại của chính ngôn ngữ đi vay, chứ không phải là sự cƣỡng ép.
Một loại ảnh hƣởng dễ nhận thấy nhất mà một ngôn ngữ có thể tác động tới một ngôn ngữ khác là sự vay mƣợn từ ngữ.