Luận án tiến sĩ sự phát triển của từ vựng tiếng việt hiện đại 30 năm đầu thế kỷ xx 1900 1930 tiến sĩ lý luận ngôn ngữ 60 22 01 01

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự phát triển của từ vựng tiếng việt hiện đại 30 năm đầu thế kỷ xx 1900 1930 tiến sĩ lý luận ngôn, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2002

212
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU

1.1. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG

1.2. Những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ

1.3. Những nhân tố bên trong ngôn ngữ

2. BỨC TRANH CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT 30 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1. VÀI NÉT VỀ BỐI CẢNH XÃ HỘI-NGÔN NGỮ GIAI ĐOẠN 1900-1930

2.2. BỨC TRANH CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG THỂ HIỆN TRÊN CÁC VĂN BẢN QUỐC NGỮ 30 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

2.3. Khái quát về sự phát triển số lượng và chất lượng của từ vựng ba mươi năm đầu thế kỷ XX

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG GIAI ĐOẠN 1900-1930 BẰNG CON ĐƯỜNG CẤU TẠO TỪ VÀ PHÁT TRIỂN NGHĨA

3.1. PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG BẰNG CON ĐƯỜNG CẤU TẠO TỪ

3.1.1. Các yếu tố tham gia cấu tạo từ

3.1.2. Một số quan niệm về yếu tố cấu tạo từ tiếng Việt

3.1.3. Các thành tố tham gia cấu tạo từ ngữ mới trong thời đoạn được khảo sát

3.1.4. Quan niệm về phương thức ghép trong tiếng Việt

3.1.5. Một số quan niệm về phân loại từ ghép trong tiếng Việt

3.1.6. Các mô hình cấu tạo từ ngữ mới tiếng Việt 30 năm đầu thế kỷ XX

3.1.6.1. Các mô hình cấu tạo từ ghép hội nghĩa
3.1.6.2. Các mô hình cấu tạo từ ghép phân nghĩa

3.1.7. Một vài nhận xét về phát triển từ vựng bằng con đường cấu tạo từ mới giai đoạn 1900-1930

3.1.8. Đặc điểm của các từ ngữ cấu tạo theo mô hình ghép hội nghĩa

3.1.9. Đặc điểm của các từ ngữ cấu tạo theo mô hình ghép phân nghĩa

3.2. PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG BẰNG CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN NGHĨA CỦA TỪ

3.2.1. Một số quan niệm về phát triển nghĩa của từ

3.2.2. Quan niệm về phát triển ý nghĩa của từ trong tiếng Việt

3.2.3. Quan niệm của các tác giả đi trước

3.2.4. Quan niệm của tác giả luận án

3.2.5. Kết quả khảo sát phát triển ý nghĩa mới của từ giai đoạn 1900-1930

3.2.6. Thuật ngữ hóa từ thông thường

3.2.7. Mở rộng ý nghĩa của từ bằng phương thức ẩn dụ và hoán dụ

3.2.8. Một vài nhận xét về sự phát triển nghĩa của từ

4. PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG GIAI ĐOẠN 1900-1930 BẰNG CON ĐƯỜNG VAY MƯỢN TỪ

4.1. TỪ NGỮ GỐC HÁN ĐƯỢC VAY MƯỢN VÀO TIẾNG VIỆT GIAI ĐOẠN 1900-1930

4.1.1. Điều kiện dẫn đến sự vay mượn từ ngữ gốc Hán vào tiếng Việt

4.1.2. Các đặc điểm của lớp từ ngữ mượn Hán giai đoạn 1900-1930

4.1.2.1. Đặc điểm về số lượng
4.1.2.2. Đặc điểm về nghĩa

4.2. TỪ NGỮ GỐC PHÁP ĐƯỢC VAY MƯỢN VÀO TIẾNG VIỆT GIAI ĐOẠN 1900-1930

4.2.1. Điều kiện dẫn đến sự vay mượn từ gốc Pháp vào tiếng Việt

4.2.2. Cách tiếp nhận từ gốc Pháp vào tiếng Việt giai đoạn 1900-1930

4.2.2.1. Tiếp nhận từ gốc Pháp bằng cách phỏng âm
4.2.2.2. Tiếp nhận từ gốc Pháp bằng cách viết nguyên dạng

4.2.3. Đặc điểm về số lượng của lớp từ mượn Pháp giai đoạn 1900-1930

4.2.4. Một số đặc điểm về nghĩa của lớp từ gốc Pháp

4.2.5. Một số phương thức Việt hoá từ gốc Pháp 30 năm đầu thế kỷ 20

4.2.6. Sự cần thiết phải Việt hoá từ gốc Pháp

4.2.7. Một số nhận xét về lớp từ mượn Pháp giai đoạn 1900-1930

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách nhìn tổng quan về phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930

Giai đoạn 1900-1930 là thời kỳ quan trọng trong sự phát triển của từ vựng tiếng Việt hiện đại. Đây là giai đoạn xã hội Việt Nam chịu nhiều biến động về chính trị, kinh tế và văn hóa dưới ảnh hưởng của thực dân Pháp. Sự ra đời và phát triển của chữ quốc ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và biến đổi từ vựng tiếng Việt hiện đại. Các nhà nghiên cứu như Trần Nhật Chính đã chỉ ra rằng, trong 30 năm đầu thế kỷ XX, từ vựng tiếng Việt không chỉ tăng về số lượng mà còn đa dạng về chất lượng, đặc biệt là trong các lĩnh vực chính trị, xã hội và khoa học kỹ thuật. Việc bãi bỏ chế độ khoa cử bằng tiếng Hán và khuyến khích sử dụng chữ quốc ngữ đã thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ Việt Nam, làm cho phát triển ngôn ngữ Việt Nam 1900-1930 trở nên sôi động và phong phú hơn bao giờ hết.

1.1. Tổng quan về sự biến đổi từ vựng tiếng Việt hiện đại giai đoạn 1900 1930

Trong giai đoạn này, biến đổi từ vựng tiếng Việt diễn ra mạnh mẽ với sự xuất hiện của nhiều từ ngữ mới, đặc biệt là các thuật ngữ chính trị, xã hội và khoa học kỹ thuật. Sự phát triển của báo chí quốc ngữ và văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20 đã góp phần quan trọng trong việc phổ biến và làm giàu vốn từ vựng. Các từ mượn từ tiếng Hán và tiếng Pháp cũng được tiếp nhận và Việt hóa, tạo nên lớp từ vựng đa dạng và phong phú.

1.2. Ảnh hưởng văn hóa Pháp đến từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930

Thực dân Pháp đã mang đến nhiều yếu tố văn hóa, khoa học kỹ thuật mới, thúc đẩy sự tiếp nhận các từ mượn gốc Pháp trong tiếng Việt. Các từ như "cà phê", "xà phòng", "máy hơi nước" trở thành những ví dụ điển hình cho sự giao thoa ngôn ngữ và văn hóa. Quá trình Việt hóa từ mượn Pháp cũng được thực hiện qua nhiều phương thức như phiên âm, giữ nguyên dạng gốc, hoặc kết hợp với từ thuần Việt.

II. Những thách thức trong nghiên cứu phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930

Việc nghiên cứu sự phát triển của từ vựng tiếng Việt hiện đại trong giai đoạn 1900-1930 gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về tư liệu và xác định từ ngữ mới. Các văn bản quốc ngữ lưu trữ còn hạn chế, nhiều đầu báo và tác phẩm đã thất lạc hoặc không còn nguyên vẹn. Bên cạnh đó, việc xác định chính xác thời điểm xuất hiện của một từ mới cũng là thách thức lớn do tính chất mở và biến đổi liên tục của hệ thống từ vựng. Tuy nhiên, dựa trên các văn bản quốc ngữ còn lại và đối chiếu với các từ điển cuối thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu đã thống kê được khoảng 3000 đơn vị từ ngữ mới, phản ánh sự phát triển đa dạng của từ vựng trong giai đoạn này.

2.1. Khó khăn về tư liệu trong nghiên cứu từ vựng tiếng Việt 1900 1930

Nguồn tư liệu quốc ngữ từ giai đoạn này còn hạn chế do nhiều văn bản bị thất lạc hoặc không được lưu trữ đầy đủ. Các nhà nghiên cứu phải dựa vào các tờ báo, tạp chí, và tác phẩm văn học còn sót lại như "Đăng cổ tùng báo", "Nam phong tạp chí" để thu thập dữ liệu. Việc này đòi hỏi sự kiên trì và phương pháp thống kê, so sánh kỹ lưỡng để đảm bảo tính chính xác.

2.2. Thách thức trong việc xác định từ ngữ mới và phạm vi nghiên cứu

Khó khăn lớn nhất là xác định thế nào là từ mới trong giai đoạn 1900-1930. Nhiều từ có thể đã tồn tại trước đó nhưng chưa được ghi nhận trong từ điển hoặc văn bản chính thức. Do đó, việc phân loại từ mới dựa trên sự xuất hiện lần đầu trong các văn bản quốc ngữ được sử dụng làm tiêu chí tương đối. Điều này giúp tạo ra cơ sở dữ liệu từ vựng mới phục vụ cho nghiên cứu phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại.

III. Phương pháp phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930 qua cấu tạo từ và phát triển nghĩa

Một trong những con đường quan trọng để làm giàu vốn từ vựng tiếng Việt trong giai đoạn 1900-1930 là phát triển từ vựng bằng con đường cấu tạo từ và phát triển nghĩa. Tiếng Việt chủ yếu sử dụng phương thức ghép từ, láy âm và chuyển loại từ để tạo ra các từ mới. Ngoài ra, sự phát triển nghĩa mới của từ cũng đóng vai trò quan trọng, giúp từ ngữ biểu đạt được nhiều khái niệm và hiện tượng mới trong xã hội. Các mô hình cấu tạo từ như ghép hội nghĩa, ghép phân nghĩa, và danh hoá động từ, tính từ được sử dụng phổ biến, góp phần làm đa dạng hóa hệ thống từ vựng.

3.1. Phương pháp cấu tạo từ ngữ mới trong từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930

Phương thức ghép từ là cách tạo từ phổ biến nhất trong tiếng Việt, bao gồm ghép hội nghĩa (ví dụ: "đất nước", "đảng cách mệnh") và ghép phân nghĩa (ví dụ: "máy bơm", "nhà gạch"). Phương thức láy âm cũng được sử dụng để tạo từ mang tính biểu trưng và nhấn mạnh như "bâng khuâng", "thình lình". Hiện tượng chuyển loại từ (danh từ thành động từ, tính từ thành danh từ) giúp mở rộng chức năng ngữ pháp và ý nghĩa của từ.

3.2. Phát triển nghĩa mới của từ trong từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930

Sự phát triển nghĩa mới của từ là quá trình mở rộng hoặc chuyển nghĩa để từ có thể biểu thị các khái niệm, sự vật mới xuất hiện trong xã hội. Hiện tượng đa nghĩa giúp tăng khả năng biểu đạt của ngôn ngữ. Ví dụ, từ "mũi" ban đầu chỉ bộ phận cơ thể, sau đó được dùng để chỉ các vật có hình dạng tương tự như "mũi thuyền", "mũi dao". Quá trình này phản ánh sự sáng tạo và thích nghi của ngôn ngữ với thực tiễn xã hội.

IV. Bí quyết phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930 qua con đường vay mượn từ ngữ

Con đường vay mượn từ ngữ là một phương thức quan trọng khác trong việc phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại giai đoạn 1900-1930. Tiếng Việt đã tiếp nhận nhiều từ mượn từ tiếng Hán và tiếng Pháp, phản ánh sự tiếp xúc văn hóa và xã hội trong thời kỳ thực dân. Quá trình vay mượn được thực hiện có hệ thống, qua các hình thức như phiên âm, giữ nguyên dạng gốc hoặc Việt hóa. Lớp từ mượn này không chỉ làm phong phú vốn từ mà còn giúp tiếng Việt đáp ứng nhu cầu biểu đạt các khái niệm mới trong chính trị, khoa học và kỹ thuật.

4.1. Đặc điểm và vai trò của từ mượn Hán trong từ vựng tiếng Việt 1900 1930

Từ mượn Hán chiếm tỷ lệ lớn trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt là các thuật ngữ chính trị, xã hội và triết học. Trong giai đoạn 1900-1930, nhiều từ Hán-Việt được sử dụng phổ biến trên báo chí quốc ngữ và văn học, thường được viết kèm dấu nối giữa các âm tiết để phân biệt là từ mới. Ví dụ như "pháp-luật", "chính-trị". Lớp từ này góp phần quan trọng trong việc hình thành từ ngữ chuyên môn và thuật ngữ.

4.2. Phương pháp tiếp nhận và Việt hóa từ mượn Pháp trong từ vựng tiếng Việt hiện đại

Tiếng Việt tiếp nhận từ mượn Pháp qua nhiều cách như phiên âm (ví dụ: "cà phê"), giữ nguyên dạng gốc (ví dụ: "xà phòng"), hoặc kết hợp với từ thuần Việt. Quá trình Việt hóa từ mượn Pháp giúp các từ này dễ dàng hòa nhập vào hệ thống ngôn ngữ và được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và chính trị.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900 1930

Nghiên cứu về sự phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại giai đoạn 1900-1930 đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về sự biến đổi và làm giàu vốn từ vựng trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Kết quả nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về các con đường phát triển từ vựng, vai trò của các nhân tố xã hội và ngôn ngữ trong việc hình thành từ mới. Các ứng dụng thực tiễn bao gồm việc bổ sung tư liệu cho các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học, hỗ trợ công tác biên soạn từ điển và phát triển giáo trình ngôn ngữ Việt Nam hiện đại.

5.1. Kết quả thống kê và phân tích từ vựng mới trong giai đoạn 1900 1930

Qua thống kê trên các văn bản quốc ngữ, khoảng 3000 đơn vị từ ngữ mới đã được xác định, chủ yếu thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật. Phân tích cho thấy sự phát triển từ vựng không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng, với nhiều từ được cấu tạo theo các mô hình ghép phức tạp và phát triển nghĩa đa dạng.

5.2. Ứng dụng nghiên cứu trong biên soạn từ điển và giáo trình tiếng Việt hiện đại

Những kết quả nghiên cứu về phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại 1900-1930 đã được sử dụng làm cơ sở để biên soạn các từ điển tiếng Việt hiện đại, giúp cập nhật các từ ngữ mới và thuật ngữ chuyên ngành. Đồng thời, các giáo trình ngôn ngữ cũng được bổ sung kiến thức về lịch sử phát triển từ vựng, giúp người học hiểu sâu sắc hơn về sự biến đổi và phong phú của tiếng Việt.

VI. Hướng phát triển tương lai của từ vựng tiếng Việt hiện đại sau 1930

Dựa trên những kết quả nghiên cứu về sự phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại giai đoạn 1900-1930, có thể dự đoán rằng từ vựng tiếng Việt sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phong phú hơn trong các giai đoạn tiếp theo. Sự hội nhập quốc tế, phát triển khoa học kỹ thuật và văn hóa sẽ thúc đẩy việc tiếp nhận từ ngữ mới, đồng thời các phương thức cấu tạo từ và phát triển nghĩa sẽ tiếp tục được vận dụng linh hoạt. Việc nghiên cứu lịch sử phát triển từ vựng sẽ là nền tảng quan trọng để định hướng và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt trong tương lai.

6.1. Dự báo xu hướng phát triển từ vựng tiếng Việt hiện đại sau năm 1930

Sau năm 1930, tiếng Việt tiếp tục mở rộng vốn từ với sự gia tăng các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật và chính trị, đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám 1945. Sự phát triển này không chỉ về số lượng mà còn về chiều sâu nghĩa, với nhiều từ đa nghĩa và từ ghép phức tạp hơn. Việc tiếp nhận từ ngữ nước ngoài vẫn diễn ra nhưng có xu hướng được Việt hóa và thích nghi chặt chẽ hơn.

6.2. Vai trò của nghiên cứu lịch sử từ vựng trong bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Việt Nam

Nghiên cứu lịch sử phát triển từ vựng giúp nhận diện các xu hướng biến đổi, từ đó có biện pháp bảo tồn sự trong sáng và bản sắc của tiếng Việt. Đồng thời, việc hiểu rõ các con đường phát triển từ vựng giúp các nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và nhà quản lý ngôn ngữ xây dựng chính sách phát triển ngôn ngữ phù hợp, góp phần nâng cao vị thế của tiếng Việt trong thời đại hội nhập.

02/09/2025
Luận án tiến sĩ sự phát triển của từ vựng tiếng việt hiện đại 30 năm đầu thế kỷ xx 1900 1930 tiến sĩ lý luận ngôn ngữ 60 22 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu: Giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phƣơng pháp nghiên cứu và bố cục của luận án. - Chƣơng một: Cơ sở lý luận về sự phát triển của từ vựng và phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng hai: Bức tranh chung về sự phát triển của từ vựng tiếng Việt ba mƣơi năm đầu thế kỷ XX. - Chƣơng ba: Phát triển từ vựng giai đoạn 1900-1930 bằng con đƣờng cấu tạo từ và phát triển nghĩa.

- Chƣơng bốn: Phát triển từ vựng giai đoạn 1900-1930 bằng con đƣờng vay mƣợn từ. - Kết luận: Luận án sẽ trình bày những kết luận rút ra đƣợc trong quá trình nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG.

Ngôn ngữ là hiện tƣợng xã hội. Với chức năng là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời, ngôn ngữ luôn luôn tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội sử dụng nó. Sự đấu tranh sinh tồn của con ngƣời đã thúc đẩy xã hội phát triển, kéo theo sự phát triển của ngôn ngữ ở mọi cấp độ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng. Tuy nhiên, so với ngữ âm và ngữ pháp thì từ vựng là bộ phận phát triển nhanh nhất bởi vì nó là tấm gƣơng phản chiếu đời sống xã hội.

Tìm hiểu sự phát triển từ vựng-ngữ nghĩa của một ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học luôn đề cập đến những nhân tố tác động đến sự biến đổi của hệ thống từ vựng. Có nhà ngôn ngữ học đã viết: "Không một môn nào mà những nhân tố biến đổi của các hiện tƣợng lại phức tạp, nhiều và đa dạng hơn từ vựng" [177, tr. Các nhân tố tác động đến sự phát triển của từ vựng thƣờng đƣợc đề cập tới là: Nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong ngôn ngữ. Những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ Nhóm nhân tố đầu tiên các nhà từ vựng học thƣờng đề cập tới là các nhân tố khách quan nằm ngoài ngôn ngữ.

Đó là những nhân tố thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội; chẳng hạn sự biến động về lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế. tất thảy đều tác động đến sự phát triển hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ. Các cuộc chiến tranh xâm lƣợc, các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, công cuộc xây dựng xã hội. cũng tác động đến sự phát triển của từ vựng và đƣợc phản ánh trong từ vựng.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo phép duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tƣợng trong thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Chính sự vận động và phát triển của thế giới vật chất ấy đã làm xuất hiện nhiều sự vật, hiện tƣợng mới, đòi hỏi từ vựng phải có những đơn vị từ ngữ mới để định danh hoặc tái định nghĩa lại các khái niệm vốn đã có trong ngữ năng của một thành viên xã hội. Nhƣ vậy, sự phát triển của xã hội yêu cầu ngôn ngữ phải chính xác hoá cái khái niệm mà ngôn từ mang chứa nó. Yêu cầu đó của xã hội bắt buộc ngôn ngữ phải tuân theo tiến trình trí tuệ hoá.

Nói khác đi, chính nội dung, cái đƣợc mang chở bằng phƣơng tiện ngôn từ, buộc ngôn ngữ phải đáp ứng nhu cầu giao tiếp ngày càng cao của con ngƣời. Xã hội là một cấu trúc vừa hƣớng nội vừa hƣớng ngoại từ khi hình thành dân tộc. Vì vậy, các nhu cầu của xã hội luôn nảy sinh, sự phát triển ngôn ngữ đã trở thành nhu cầu cần yếu của mọi xã hội. Nghiên cứu sự phát triển từ vựng của một ngôn ngữ, dƣờng nhƣ các nhà ngôn ngữ học đều đồng ý rằng trong quá trình tiến triển của một dân tộc, dân tộc đó phát triển mạnh về lĩnh vực nào (chính trị, văn hoá, nghệ thuật,.) thì vốn từ vựng của ngôn ngữ mà dân tộc đó sử dụng sẽ xuất hiện những đơn vị từ ngữ mới thuộc các lĩnh vực khoa học đó.

Điều này có thể đƣợc minh chứng ngay trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Cuối thế kỷ XIX, tri thức về các lĩnh vực khoa học tự nhiên ở nƣớc ta còn quá thấp, do vậy các từ ngữ chuyên môn thuộc các lĩnh vực này còn quá ít. Tuy nhiên, do những biến động của xã hội, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là thập kỷ X và thập kỷ XX, xã hội Việt Nam đã bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến phƣơng Tây; chúng ta đã thấy trong vốn từ vựng tiếng Việt xuất hiện các từ ngữ Hán - Việt, thuần Việt hoặc từ ngữ gốc Pháp chỉ các sự vật, hiện tƣợng mới. Ví dụ: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 - Các từ ngữ thuộc lĩnh vực vật lý: Máy trục không khí, máy ép không khí, dây thu lôi, máy hơi nước, ống sinh điện, gương tròn hình quả cầu (gương lồi), cử động đều (chuyển động đều) - Các từ ngữ thuộc lĩnh vực hoá học: Thán khí, kim chất, đạm cường toan, si măng (xi măng), cường thuỷ (acide acitique), acide sufurique - Các từ ngữ thuộc lĩnh vực địa lý: Địa chất học, đường xích đạo, hoành tuyến, trục tuyến.

- Các từ ngữ thuộc lĩnh vực toán học: Quy nhất số, hình ba giác (tam giác), đường ngang hàng (song song), hình thoi, đường thẳng nghiêng. Trong sự phát triển của từ vựng, lớp từ thông thƣờng phát triển rất chậm. Bởi lẽ, chúng vốn là lớp từ cơ bản, phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày của những ngƣời lao động. Trái lại, lớp từ chuyên môn (thuật ngữ) lại phát triển rất nhanh.

Sở dĩ nhƣ vậy là vì thuật ngữ "đƣợc xem nhƣ bức tranh phản chiếu, là diện mạo toàn cảnh từ ngữ ghi dấu, trạng thái tri thức, trạng thái sáng tạo, tiếp biến của một dân tộc trong từng thời kỳ tiến hoá và phát triển ngày càng đi lên, ngày càng tiến bộ của nhân loại" [133]. Thật có lý khi có ý kiến cho rằng chỉ cần nhìn vào hệ thống thuật ngữ của một ngôn ngữ, chúng ta có thể biết xã hội đang sử dụng ngôn ngữ đó phát triển đến mức nào. Bàn về sự phát triển của từ vựng, Xtalin đã nhấn mạnh: "Sự phát triển liên tiếp của công nghiệp và nông nghiệp, của thƣơng nghiệp và vận tải, của kỹ thuật và khoa học, đòi hỏi ngôn ngữ phải bồi bổ từ vựng của mình bằng những từ mới và những ngữ mới” [93, tr. Một nhân tố khác cũng không kém phần quan trọng trong việc thúc đẩy từ vựng phát triển là hiện tƣợng tiếp xúc ngôn ngữ.

Sự tiếp xúc ngôn ngữ do TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể do các dân tộc khác nhau cùng cƣ trú rất gần nhau trên cùng một địa bàn, đã có giao lƣu về các mặt: kinh tế, văn hoá, thƣơng mại. Một ngôn ngữ A khi có sự tiếp xúc với ngôn ngữ B không thể tránh khỏi những ảnh hƣởng nhất định. Cũng nhƣ các nền văn hoá, bản thân mỗi ngôn ngữ không phải bao giờ tự chúng đã đầy đủ.

Nhu cầu giao lƣu về các lĩnh vực khiến cho những ngƣời nói ngôn ngữ A trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp xúc với những ngƣời nói ngôn ngữ B ở vùng lân cận hoặc một ngôn ngữ C có ƣu thế về mặt văn hoá, kinh tế. Sự giao lƣu có thể có tính chất hữu nghị hoặc thù địch, có thể do quan hệ bình thƣờng hoặc kinh doanh buôn bán. Dù cho tính chất hay mức độ của sự tiếp xúc giữa các dân tộc thế nào đi nữa, thì vẫn dẫn đến sự ảnh hƣởng qua lại ít nhiều giữa các ngôn ngữ. Thông thƣờng, ảnh hƣởng ấy nghiêng về một phía.

Dân tộc nào có nền văn hoá, kinh, tế, khoa học kỹ thuật. phát triển hơn thì ngôn ngữ của dân tộc đó sẽ tạo ra ảnh hƣởng nhiều hơn đối với các ngôn ngữ khác: Chẳng hạn, ngay từ nhiều thế kỷ trƣớc, tiếng Hán đã có ảnh hƣởng rất lớn đến tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Minh chứng là trong vốn từ vựng của tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Nhật hiện nay đều có trên 60% từ ngữ vay mƣợn từ tiếng Hán. Việc tiếp xúc ngôn ngữ đƣợc tiến hành do những ngƣời sử dụng song ngữ.

Hiện tƣợng song ngữ không phải là cá biệt cho một ngôn ngữ và không phải diễn ra chỉ trong một thời gian ngắn. Nó là hiện tƣợng thƣờng xuyên xẩy ra đối với hầu hết mọi tộc ngƣời. Mọi dân tộc đều có những ngƣời mang song ngữ. Đó là các trí thức, nhà văn, nhà khoa học, nhà chính trị học.

sử dụng ngoại ngữ. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc. Bên cạnh nguyên nhân do quan hệ về địa lý, hiện tƣợng song ngữ còn xảy ra do quan hệ giữa những ngƣời của dân tộc đi chinh phục và những ngƣời của dân tộc bị chinh phục. Cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Việt Nam đã tồn tại hiện tƣợng song ngữ: tiếng Việt và tiếng Pháp.

Chính đội ngũ sử dụng song ngữ Pháp - Việt đã du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt nhiều từ ngữ mƣợn từ tiếng Pháp. Ví dụ: Cà phê, xà phòng, cu lít, (đèn) pha, lốp, xu. Hiện tƣợng song ngữ còn xảy ra do nhu cầu văn hoá. Chẳng hạn tiếng Pali vào Đông Nam Á cùng với Phật giáo, tiếng Sanscrit vào Đông Nam Á với Ấn Độ giáo và văn minh Ấn Độ.

Khi một dân tộc phát triển thành một Nhà nƣớc, bắt buộc phải xây dựng một cơ chế mới về xã hội, chính trị. Lúc đó, vốn từ của ngôn ngữ dân tộc thƣơng không đủ để đáp ứng cho nhu cầu mới. Do đó, sự vay mƣợn từ ngữ càng thiết yếu hơn bao giờ hết. Sự ra đời của Nhà nƣớc Champa, Nhà nƣớc Việt Nam, Nhà nƣớc Ăng Co,.

dẫn đến sự ra đời của ngôn ngữ văn học bằng ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Khi ngôn ngữ chuyển từ chỗ là công cụ sinh hoạt sang công cụ điều hành chính trị, tổ chức xã hội, củng cố chính quyền thì hiện tƣợng song ngữ có chiều hƣớng thu hẹp về chiều rộng để phát triển chiều sâu. Sự vay mƣợn từ ngữ từ ngôn ngữ khác là sự vay mƣợn có ý thức, có hệ thống do tầng lớp trí thức thực hiện. Sự vay mƣợn lúc đó là nhu cầu nội tại của chính ngôn ngữ đi vay, chứ không phải là sự cƣỡng ép.

Một loại ảnh hƣởng dễ nhận thấy nhất mà một ngôn ngữ có thể tác động tới một ngôn ngữ khác là sự vay mƣợn từ ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ