CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀ NG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Khi quy định về DNNVV, có nhiều tiêu chuẩn để phân loại, các quốc gia thường căn cứ vào quy mô vốn của doanh nghiệp, số nhân công, tổng doanh thu, tổng tài sản của doanh nghiệp,… Mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Thông thường, hai tiêu chuẩn được sử dụng để phân loại doanh nghiệp là số lao động được sử dụng và quy mô vốn. Tại Việt Nam, trước đây, Chính phủ đã ban hành nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày 23 tháng 1 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, trong đó xác định rõ DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu cấp thiết trong vấn đề hỗ trợ phát triển đối với các DNNVV, Chính phủ đã ban hành nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV. Theo đó DNNVV được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể: 12 Bảng 1.4: Phân loại DNNVV tại Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao Số lao động Khu vực nguồn vốn động vốn động I. Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp người đồng người xuống trở xuống và thủy sản đến 200 đến 100 tỷ đến 300 người đồng người II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến xuống trở xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 10 người trở 10 tỷ đồng mại và dịch người đến đồng đến 50 người đến xuống trở xuống vụ 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ Nghị định cũng nêu rõ “Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp”.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Môt là , doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn tài chính hạn chế. lưc Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là vốn tự có của chủ sở hữu doanh nghiệp, vay mượn từ người thân, bạn bè, khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng thấp. Điều này không cho phép các DNVVN đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh trung dài hạn, với nguồn vốn đầu tư lớn như xây dựng hay thi công… mà thường hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mai dịch vụ. Đây là những lĩnh vực có tốc độ quay vòng vốn nhanh và số vốn đầu tư không lớn.
Hai là , trình độ quản lý chưa cao. 13 Bộ máy quản lý thường gọn nhẹ, trình độ tổ chức quản lý chưa cao, được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa vào năng lực và kinh nghiệm của bản thân chủ doanh nghiệp nên tổ chức bộ máy rất gọn nhẹ, các quyết định trong quản lý cũng được thực hiện nhanh chóng, ngoài ra các chủ doanh nghiệp vừa là người quản lý vừa là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao và việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng. Ba là , lao đông có trình độ thấp và sử dụng công nghệ cũ. DNNVV thường sản xuất theo thời vụ, không ổn định công thêm chế độ chính sách tiền lương, tiền thưởng không cao nên không thu hút đươc lao động có trình đô ̣c tay nghề cao.
Dây chuyền thiết bi ̣c sản xuất áp dung công nghệ cũ, lạc hậu nên chất lượng sản phẩm chưa cao, khả năng canh tranh kém. Từ những đặc điểm trên, có thể thấy được thế manh và chế của loại hình han doanh nghiệp này như sau: Những thế manh của DNNVV: Bộ máy tổ chứ c gọn nhẹ giúp cho doanh nghiệp năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường. Các DNVVN được đánh giá là bộ phận năng động, hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế. Điều này xuất phát từ lợi thế của quy mô nhỏ, gọn cùng với hoạt động trên hầu hết mọi địa bàn, mọi ngành nghề nên việc chuyển hướng trong kinh doanh của các DNVVN dễ dàng hơn các doanh nghiệp lớn.
Thêm vào đó, phần lớn chủ DNVVN là lớp trẻ, rất năng động và nhạy bén nên dễ thích ứ ng với những thay đổi của môi trường thể hiện qua khả năng đổi mới sản phẩm khá nhanh trong điều kiện giới hạn về vốn và công nghệ, hoặc có thể điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh một cách nhanh chóng khi thị trường có sự thay đổi. Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động. Quy mô DNNVV là không lớn, số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động chưa quá rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó.
Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp, dễ dàng tạo ra sự đoàn kết giữa lãnh đạo công ty và nhân viên, góp phần làm tăng chất lượng và năng suất lao động. 14 Những han chế của DNNVV: Hạn chế lớn nhất của DNNVV đó là quy mô nhỏ, vốn ít, nên các DNVVN thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, các DNNVV thường yếu trong khâu thiết kế và chuẩn bị các dự án vay vốn ngân hàng, lập luận về sự cần thiết của các dự án cũng như việc tính toán các chỉ tiêu tài chính thường qua loa và thiếu tính khả thi, thiếu tính thuyết phục; thiếu tài sản thế chấp; hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính của các DNNVV không rõ ràng, minh bạch, khiến các ngân hàng không nắm được thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp dấn đến việc tiếp cận với các nguồn tài chính từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng của các DNNVV còn khá nhiều khó găp khăn.
Do tính chất vừa và nhỏ của mình, DNNVV còn gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương, đặc biệt với các đối tác nước ngoài. Ngoài ra DNNVV còn khó khăn trong thiết lập chỗ viêc đứng vững chắc trên thị trường, khó khăn này sẽ là thách thức lớn để các DNVVN gia tăng sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tồn tại bền vững khi Việt Nam hội nhập WTO. Cuối cùng, do tính chất nhỏ bé về vốn, quy mô, sự thiếu thốn về năng lực quản lý, dự báo rủi ro, bị động và phụ thuộc nhiều vào đối tác, các DNNVV thường có sức chống chịu kém trước những biến động tiêu cực của nền kinh tế như: khủng hoảng, lạm phát, thay đổi chính sách lãi suất,. Dễ dàng thành lập nhưng cũng dễ dàng bị đổ vỡ khi gặp phải biến cố lớn.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, DNNVV luôn là nền tảng của nền kinh tế, thường chiếm 90% số lượng doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho 50-70% lực lượng lao động, đóng góp từ 25-33% 15 giá trị GDP hàng năm.
Ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, các doanh nghiệp này chiếm tới 98% tổng số các doanh nghiệp, tạo ra 60% việc làm của khu vực kinh tế tư nhân, 50% doanh số hay giá trị gia tăng, đóng góp 30% giá trị xuất khẩu trực tiếp.1 Ở Nam, theo số liệu báo cáo của Tổng cuc thống kê, Bô ̣c Kế hoach và Viêt đầu tư, cả nước có khoảng 520 nghìn DNNVV, chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, 33% tổng thu ngân sách, sử dụng khoảng 60% lao động xã hội. Qua đó có thể nói, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế là không thể phủ nhận và được thể hiện ở các khía cạnh sau: Mô là , có khả năng huy động mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng t kinh tế. Các DNNVV mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào với quy mô tùy ý nên có khả năng huy động các nguồn vốn tiết kiệm từ người thân, bạn bè,. cho hoạt động kinh doanh của mình.
Bên cạnh đó, việc phát triển trải rộng trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ những khu vực có điều kiện thuận lợi đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa nên có thể tận dụng mọi nguồn lực lao động ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, kể cả các lao động phổ thông, lao động là người tàn tật, mọi nguồn nguyên liệu. từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng giá trị xuất khẩu và làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hai là , đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP) và nguồn thu ngân sách nhà nước, huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế.