Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại" do nghiên cứu sinh Hoàng Cẩm Giang thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2013), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lý Hoài Thu, thuộc chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 62.22.01.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nghiên cứu văn học đương đại, các thuật ngữ "thể loại", "thi pháp thể loại" và "cấu trúc thể loại" thường xuyên được sử dụng nhằm khẳng định ưu thế của hướng tiếp cận loại hình. Tuy nhiên, việc khảo sát bản chất thuật ngữ "cấu trúc thể loại" đối với sự biến chuyển của tiểu thuyết ở một giai đoạn giao thời vẫn chưa được tiến hành thận trọng và có hệ thống. Thực tiễn sáng tác tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI diễn ra sôi động, phức tạp với nhiều hiện tượng thẩm mỹ đa dạng, tạo nên những nhận định trái chiều trong phê bình. Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc phê bình điểm sách, khảo cứu các tác giả - tác phẩm đơn lẻ, hoặc tiếp cận theo đề tài, nội dung phản ánh mà chưa làm rõ sự biến đổi bên trong thể loại từ cấp độ hình thức - cấu trúc. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình kết hợp tiếp cận thể loại và văn học sử, thiết lập mô hình cấu trúc thể loại để bao quát diện mạo chung của tiểu thuyết đương đại.
Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Lựa chọn điểm xuất phát từ cấu trúc thể loại để soi chiếu, nhận diện và phân tích các khuynh hướng vận động của tiểu thuyết Việt Nam trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, đặt trong mạch nối tiếp với diễn trình thể loại của các giai đoạn văn học trước đó.
- Giả thuyết nghiên cứu: Từ bình diện lý luận, sự vận động của một thể loại văn học tại thời điểm chuyển giao lịch sử có thể diễn ra theo ba khả năng:
- Khả năng 1: Duy trì theo hướng bảo lưu trung thành mô hình thể loại truyền thống.
- Khả năng 2: Cách tân quyết liệt so với mô hình truyền thống nhằm vượt thoát ra ngoài khuôn khổ thể loại.
- Khả năng 3: Vừa duy trì vừa cách tân nhưng sự cách tân không phá vỡ mô hình truyền thống.
Luận án đặt giả thuyết rằng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI đang phát triển đồng thời theo các khuynh hướng trên, trong đó tập trung làm rõ hai khuynh hướng chính là duy trì có cách tân mô hình truyền thống và cách tân hình thức thể loại truyền thống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm tiểu thuyết viết bằng tiếng Việt, xuất bản trong nước hoặc công bố ở nước ngoài, nhận được sự quan tâm của công chúng và giới phê bình văn học.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát trọng tâm các tiểu thuyết xuất bản trong 10 năm đầu thế kỷ XXI (giai đoạn 2000 - 2010), có khảo sát mở rộng đối với hai tác phẩm xuất bản năm 1999 (Người đi vắng và Cơ hội của Chúa) do tính chất kế cận về thời gian và thi pháp.
- Phân nhóm tư liệu khảo sát:
- Nhóm A (Khuynh hướng duy trì hình thức thể loại truyền thống): Gồm các tiểu thuyết quy mô trung bình (300 - 600 trang), tiêu biểu như Hồ Quý Ly (2000), Con ngựa Mãn Châu (2001), Giàn thiêu (2003), Tìm trong nỗi nhớ (2003), Dòng sông Mía (2004), Tấm ván phóng dao (2004), An lạc dưới trời (2004), Bến đò xưa lặng lẽ (2005), Gia đình bé mọn (2005), Ba người khác (2006), Mẫu Thượng Ngàn (2006), Thượng đế thì cười (2006), Minh sư (2010). Mảng tiểu thuyết sử thi quy mô đồ sộ (trên 1000 trang) như Đường thời đại, Thượng Đức, Ngày rất dài, Những cánh rừng lá đỏ, Những bức tường lửa được khảo sát khái lược để xác lập bối cảnh.
- Nhóm B (Khuynh hướng cách tân hình thức thể loại truyền thống): Gồm các tiểu thuyết quy mô nhỏ (100 - 250 trang), tiêu biểu như Trí nhớ suy tàn (2000), Đi tìm nhân vật (2002), Made in Vietnam (2003), Chinatown (2004), Thiên thần sám hối (2004), Cõi người rung chuông tận thế (2004), Và khi tro bụi (2004), Giữa vòng vây trần gian (2005), Khải huyền muộn (2005), Paris 11 tháng 8 (2005), Thoạt kỳ thủy (2005), Ngồi (2006), T. mất tích (2006), Song song (2007), Bờ xám (2010).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI theo các cấp độ và hình thức tiếp cận:
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI
Nhóm công trình lý luận, dự báo Nhóm công trình khảo sát phân dòng Nhóm nghiên cứu chuyên đề,
& tổng quan khuynh hướng & thi pháp thể loại luận án & phê bình cụ thể
- Trần Đình Sử (1996) - Phong Lê (2005, 2007) - Nguyễn Thanh Sơn (2002)
- Hà Minh Đức (1998) - Nguyễn Thị Bình (2005, 2011) - Lý Hoài Thu (2004, 2005)
- Đổi mới tư duy tiểu thuyết (2002) - Mai Hải Oanh - Thái Phan Vàng Anh (2010)
- Văn học VN thế kỷ XX (2004) - Văn Giá, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thị Hoa - Đỗ Hải Ninh, Nguyễn Thị Ninh (2012)
Các hướng nghiên cứu trước đây
- Hướng nhận định lý luận và dự báo khuynh hướng: Các công trình như Lý luận và phê bình văn học (Trần Đình Sử, 1996), Đi tìm chân lý nghệ thuật (Hà Minh Đức, 1998), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (nhiều tác giả, 2004), kỷ yếu hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết (Hội Nhà văn, 2002) đã đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật, nhìn lại các thói quen trần thuật truyền thống và dự báo sự chuyển dịch của thể loại trong thế kỷ mới.
- Hướng khảo sát trực tiếp các xu thế phát triển:
- Phong Lê (2007) phân loại tiểu thuyết thành nhóm tiểu thuyết lịch sử (Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Sông Côn mùa lũ), nhóm tự truyện (Chuyện kể năm 2000, Thượng đế thì cười), và nhóm chịu ảnh hưởng văn học hiện đại phương Tây (Đi tìm nhân vật, Thoạt kỳ thủy, Khải huyền muộn).
- Nguyễn Thị Bình (2011) trong đề tài khoa học cấp Bộ đã chia tiểu thuyết sau 1986 thành 5 khuynh hướng: lịch sử hóa, tự thuật, tư liệu - báo chí, hiện thực kiểu truyền thống, và hậu hiện đại (trong đó đi sâu vào khuynh hướng lịch sử hóa và hậu hiện đại).
- Mai Hải Oanh phân chia theo 4 dạng bút pháp: tả thực mới; phúng dụ - huyền thoại; trào lộng - giễu nhại; tượng trưng.
- Các tác giả Văn Giá (2005), Bùi Việt Thắng (2000), Nguyễn Thị Hoa (2004) định danh dòng "tiểu thuyết ngắn" (short novel) với các tác phẩm của Thuận, Nguyễn Bình Phương, Đoàn Minh Phượng.
- Các tiểu luận về dấu ấn hậu hiện đại của Thái Phan Vàng Anh (2010), Phùng Gia Thế (2007), Lã Nguyên (2007); và các bài viết về tiểu thuyết lịch sử của Lại Nguyên Ân, Hoài Nam, Phạm Xuân Thạch, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Văn Phú.
- Hướng nghiên cứu thi pháp thể loại trên tác phẩm và luận án chuyên ngành:
- Các tập tiểu luận của Nguyễn Thanh Sơn (Phê bình văn học của tôi, 2002), Vương Trí Nhàn (Cánh bướm và đóa hướng dương), Lý Hoài Thu (Đồng cảm và sáng tạo, 2005).
- Các bài nghiên cứu chuyên sâu trên tạp chí của Văn Giá, Nguyễn Hòa, Bích Thu.
- Các luận án tiến sĩ chuyên đề: Thái Phan Vàng Anh (2010, về người kể chuyện), Trần Thị Hạnh (2012, về yếu tố trào lộng), Đinh Thị Thu Hà (2012, về ngôn ngữ nghệ thuật), Nguyễn Thị Ninh (2012, về kết cấu), Đỗ Hải Ninh (2012, về khuynh hướng tự truyện), Nguyễn Thị Kim Tiến (2012, về con người trong tiểu thuyết).
- Các bài viết phê bình trên báo chí và trang mạng của Đoàn Cầm Thi, Thụy Khuê, Nguyễn Chí Hoan, Trịnh Thanh Thủy.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình đi trước đã cung cấp nhiều tư liệu và phát hiện cụ thể, song phần lớn khảo sát riêng lẻ từng yếu tố thi pháp, từng tác giả hoặc từng tiểu loại mà chưa đặt tiểu thuyết đương đại vào một mô hình cấu trúc thể loại hoàn chỉnh. Việc phân chia khuynh hướng trước đây chủ yếu dựa vào đề tài hoặc nội dung phản ánh, dẫn đến hiện tượng chồng chéo giữa các nhóm. Luận án khắc phục điểm này bằng cách sử dụng cấu trúc thể loại làm công cụ phân loại, nghiên cứu đồng thời hai cấp độ: hình tượng thẩm mỹ và phương thức trần thuật để bao quát toàn cảnh văn học đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các thành tựu của thi pháp học lịch sử, thi pháp học cấu trúc và tự sự học hiện đại:
- Khái niệm thể loại và cấu trúc thể loại: Kế thừa quan niệm của M. Bakhtin về thể loại như "hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm", "bộ nhớ thể loại", tính chất đa thanh, phức điệu và hiện tượng "tiểu thuyết hóa" các thể loại văn học; luận điểm của D. Likhachev về sự vận động lịch sử của thể loại; mô hình cấu trúc nghệ thuật của Trần Đình Sử.
- Mô hình cấu trúc ba bình diện của N. Tamarchenko: Tiếp thu mô hình cấu trúc thể loại gồm: (1) Sự kiện được kể (cái được kể - bình diện hình tượng thẩm mỹ), (2) Sự kiện kể (cách kể - bình diện phương thức trần thuật), (3) Tương quan giữa sự kiện được kể và sự kiện kể.
- Lý thuyết cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận: Khái niệm ký hiệu của F. de Saussure (cái biểu đạt và cái được biểu đạt); ba đặc tính cấu trúc của J. Piaget (tính toàn thể, tính biến thiên, tính tự trị); lý thuyết mã văn bản của Roland Barthes; lý thuyết tự sự học của Gérard Genette và Tzvetan Todorov.
- Lý thuyết diễn ngôn và mỹ học tiếp nhận: Khái niệm "hệ hình tri thức" (épistémè) và phê phán thuyết mô phỏng (mimesis) của Michel Foucault; lý thuyết "tầm đón đợi" (Erwartungshorizont) và mô hình đọc của Hans Robert Jauss và Antoine Compagnon; xã hội học tiểu thuyết của Lucien Goldmann; các quan niệm về tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại của Milan Kundera.
| Bình diện cấu trúc |
Thành tố khảo sát cụ thể trong luận án |
| Hình tượng thẩm mỹ (Siêu văn bản) |
- Nhân vật (Cấp độ tâm lý - tính cách, Cấp độ thân phận - hành động, Cấp độ nhân tố tự sự: nhân vật phức hợp / nhân vật ký hiệu / phản nhân vật) - Không - thời gian (Sử thi hóa/tiểu thuyết hóa, sự kiện hóa/tâm lý hóa, hệ thống/thường biến, tâm linh/huyền ảo/tượng trưng) |
| Phương thức trần thuật (Văn bản) |
- Người kể chuyện, điểm nhìn và phối cảnh - Kết cấu trần thuật (Lịch sử - sự kiện, tâm lý, đa tầng - tự tham chiếu, phân mảnh, xoắn kép - trùng điệp) - Ngôn ngữ và giọng điệu (Từ vựng, cú pháp, diễn ngôn trần thuật, chỉ số độ phong phú từ vựng) |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp cấu trúc - loại hình: Khảo sát các thành tố cấu trúc nội tại của tác phẩm và phân loại các khuynh hướng tiểu thuyết.
- Phương pháp hệ thống: Đặt các hiện tượng tiểu thuyết trong mối quan hệ hữu cơ của hệ thống thể loại và tiến trình văn học sử.
- Phương pháp thi pháp học lịch sử và tự sự học: Phân tích các yếu tố người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian trần thuật và cấu trúc cốt truyện.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh đặc điểm hình thức giữa nhóm tiểu thuyết A và nhóm tiểu thuyết B; so sánh tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI với tiểu thuyết các giai đoạn trước (1925 - 1945, 1945 - 1975, 1975 - 2000).
- Các thao tác bổ trợ: Ký hiệu học, liên văn bản, tiếp cận văn hóa học, thống kê - phân loại văn bản và mô hình hóa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cấu trúc thể loại văn học và diễn trình tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX
Chương này xác lập nền tảng lý luận về cấu trúc thể loại và phục dựng bức tranh lịch sử của tiểu thuyết Việt Nam trong thế kỷ XX:
- Cấu trúc thể loại văn học: Phân tích sự chuyển biến từ học thuyết mô phỏng (mimesis) của mỹ học cổ điển sang lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học và mỹ học tiếp nhận. Luận án khẳng định cấu trúc thể loại là một hệ thống tự trị, vừa có tính ổn định lưu giữ ký ức thể loại, vừa liên tục biến thiên dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội.
- Lược sử quan niệm về tiểu thuyết: Làm rõ tính chất "chưa hoàn thành", khả năng tự biến đổi và thu hút các thể loại khác của tiểu thuyết (theo M. Bakhtin và M. Kundera), chỉ ra sự đối lập giữa quan niệm mỹ học hiện thực (coi trọng câu chuyện, tính liên tục, tính xác thực) và mỹ học hậu hiện đại (phi tâm hóa, phi cốt truyện, trò chơi ngôn từ).
- Diễn trình tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX: Phân tích hai nguồn lực vận động gồm tác động "ngoại sinh" (tiếp nhận văn học Pháp, Nga/Xô Viết, văn học hiện đại và hậu hiện đại phương Tây) và tác động "nội sinh" (nhu cầu tự thân của đời sống văn hóa dân tộc) qua ba chặng đường:
- Giai đoạn 1925 - 1945: Quá trình hiện đại hóa thể loại, hình thành tiểu thuyết lãng mạn Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực phê phán.
- Giai đoạn 1945 - 1975: Sự thống trị của mô hình tiểu thuyết sử thi - cách mạng, phản ánh hiện thực đấu tranh giải phóng dân tộc với điểm nhìn cộng đồng và nhân vật anh hùng.
- Giai đoạn 1975 - 2000 (Thời kỳ Đổi mới): Quá trình phi sử thi hóa, đời thường hóa, sự trỗi dậy của cảm quan thế sự - đời tư và những tìm tòi cách tân đầu tiên về kỹ thuật tự sự.
Chương 2: Các khuynh hướng tiểu thuyết từ bình diện hình tượng thẩm mỹ
Chương 2 khảo sát cấp độ "cái được kể" (tổ chức siêu văn bản) thông qua hai phạm trù trọng tâm là nhân vật và không - thời gian nghệ thuật ở hai nhóm tác phẩm:
- Hình tượng nhân vật:
- Ở cấp độ tâm lý - tính cách và thân phận - hành động: Nhóm A duy trì mô hình nhân vật có tính cách hoàn chỉnh, có động cơ hành động rõ ràng và số phận gắn liền với các biến cố lịch sử, gia tộc (Hồ Quý Ly, Gia đình bé mọn, Dòng sông Mía). Ngược lại, nhóm B xây dựng nhân vật bị tước bỏ lý lịch truyền thống, hành động phi logic, tồn tại trong trạng thái cô đơn, tha hóa hoặc bản năng (Thoạt kỳ thủy, Trí nhớ suy tàn).
- Ở cấp độ nhân tố tự sự: Nhóm A tập trung xây dựng nhân vật phức hợp - đa bình diện, thể hiện sự giằng xé nội tâm sâu sắc. Nhóm B chuyển hẳn sang xây dựng nhân vật ký hiệu - biểu tượng và phản nhân vật, trong đó nhân vật đóng vai trò như một ký hiệu mang tính triết luận hoặc bị phân rã nhân cách (Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Made in Vietnam).
- Không - thời gian nghệ thuật:
- Nhóm A: Tổ chức không - thời gian tuân thủ tính hệ thống về mặt tổng thể, vận động từ "sử thi hóa" sang "tiểu thuyết hóa", từ "sự kiện hóa" sang "tâm lý hóa". Thời gian tuy có sự đan cài hồi ức nhưng vẫn giữ trục thời gian tuyến tính lịch sử.
- Nhóm B: Không - thời gian bị phân mảnh, phi tuyến tính, thường biến và thiếu tính chỉnh thể; không - thời gian được tâm linh hóa, huyền ảo hóa hoặc mang tính tượng trưng - biểu tượng đậm nét (Chinatown, Và khi tro bụi, Cõi người rung chuông tận thế).
Chương 3: Các khuynh hướng tiểu thuyết từ bình diện phương thức trần thuật
Chương 3 đi sâu khảo sát cấp độ "cách kể" (tổ chức văn bản), tập trung vào người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu:
- Người kể chuyện, điểm nhìn và phối cảnh:
- Nhóm A: Sử dụng người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri hoặc ngôi thứ nhất nhân chứng, điểm nhìn bên ngoài kết hợp điểm nhìn bên trong nhưng vẫn đảm bảo tính khả tín và kiểm soát mạch kể.
- Nhóm B: Đa dạng hóa ngôi kể, triệt tiêu người kể chuyện toàn tri, gia tăng người kể chuyện không đáng tin cậy (unreliable narrator), người kể chuyện đa bội hoặc người kể chuyện mang tiêu điểm phân hóa.
- Các kiểu kết cấu trần thuật: Luận án nhận diện 5 kiểu kết cấu tiêu biểu:
- Kết cấu lịch sử - sự kiện: Tổ chức sự kiện theo trật tự thời gian và biến cố lịch sử (tiêu biểu trong nhóm A).
- Kết cấu tâm lý: Tổ chức văn bản theo dòng chảy ý thức và liên tưởng nội tâm.
- Kết cấu đa tầng và tự tham chiếu (metafiction): Tác phẩm tự phơi bày quá trình sáng tạo văn bản (Đi tìm nhân vật, Khải huyền muộn).
- Kết cấu phân mảnh: Cắt rời các mảng không - thời gian, ghép nối phi logic (Thoạt kỳ thủy, Song song).
- Kết cấu xoắn kép và trùng điệp văn bản: Lặp lại các mô típ, tạo cấu trúc đa tầng nghĩa (Chinatown, T. mất tích).
- Ngôn ngữ và giọng điệu:
- Khảo sát sự khác biệt về vốn từ vựng, cú pháp (câu ngắn, câu dòng ý thức không dấu ngắt nghỉ).
- Khảo sát chỉ số độ phong phú từ vựng giữa hai nhóm và sự biến chuyển của giọng điệu trần thuật: từ giọng điệu trang nghiêm, chiêm nghiệm, triết lý (nhóm A) sang giọng điệu giễu nhại, trào lộng, hoài nghi, đa thanh (nhóm B).
Chương 4: Cấu trúc thể loại tổng quát của các khuynh hướng tiểu thuyết
Chương này tổng hợp và mô hình hóa hai khuynh hướng thể loại chính của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI:
MÔ HÌNH CẤU TRÚC THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT ĐẦU THẾ KỶ XXI
KHUYNH HƯỚNG DUY TRÌ HÌNH THỨC KHUYNH HƯỚNG CÁCH TÂN HÌNH THỨC
THỂ LOẠI TRUYỀN THỐNG THỂ LOẠI TRUYỀN THỐNG
(Nhóm A) (Nhóm B)
- Bảo lưu "tính chuyện" và cốt truyện - "Phi tâm hóa tự sự", cốt truyện phân rã
- Dịch chuyển sang "đại tự sự về cá nhân" - Tiểu thuyết như trò chơi tự sự & ngôn từ
- Mô hình tiêu biểu: Tiểu thuyết lịch sử - Mô hình tiêu biểu: "Tiểu thuyết mảnh vỡ"
- Khuynh hướng duy trì hình thức thể loại truyền thống (Nhóm A):
- Bảo lưu trung thành "tính chuyện", cốt truyện có mở đầu, phát triển và kết thúc mạch lạc.
- Chuyển dịch từ "đại tự sự về cộng đồng" sang "đại tự sự về cá nhân", khám phá chiều sâu số phận con người trong tương quan với lịch sử và văn hóa.
- Mô hình lựa chọn tiêu biểu: Tiểu thuyết lịch sử (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Giàn thiêu, Minh sư), nơi các tác giả làm mới cách tiếp cận lịch sử qua lăng kính cá nhân nhưng vẫn giữ khuôn khổ cấu trúc thể loại vững chắc.
- Khuynh hướng cách tân hình thức thể loại truyền thống (Nhóm B):
- Thực hiện "phi tâm hóa tự sự", giải cấu trúc câu chuyện, xóa bỏ ranh giới giữa thực và ảo, giữa tác phẩm và văn bản.
- Tiểu thuyết biến thành trò chơi của tự sự và ngôn từ, thử nghiệm các kỹ thuật viết hậu hiện đại (liên văn bản, tự tham chiếu, phân mảnh).
- Mô hình lựa chọn tiêu biểu: "Tiểu thuyết mảnh vỡ" (hay tiểu thuyết ngắn: Thoạt kỳ thủy, Chinatown, Made in Vietnam, Và khi tro bụi), phá vỡ dung lượng đồ sộ truyền thống để kiến tạo một dạng thức tiểu thuyết ngắn gọn, cô đặc và đa tầng nghĩa.
Bảng so sánh tổng hợp hai khuynh hướng tiểu thuyết
Dưới đây là bảng tổng hợp đặc điểm cấu trúc thể loại giữa hai khuynh hướng dựa trên kết quả phân tích của luận án:
| Tiêu chí cấu trúc thể loại |
Khuynh hướng duy trì hình thức truyền thống (Nhóm A) |
Khuynh hướng cách tân hình thức truyền thống (Nhóm B) |
| Quy mô văn bản |
Dung lượng trung bình đến lớn (300 - 600 trang). |
Dung lượng ngắn đến nhỏ (100 - 250 trang). |
| Cấp độ nhân vật |
Nhân vật phức hợp - đa bình diện; tính cách hoàn chỉnh; hành động có động cơ; gắn liền số phận lịch sử/gia tộc. |
Nhân vật ký hiệu - biểu tượng, phản nhân vật; tính cách phân rã; hành động phi lý tính; phi lý lịch. |
| Không - thời gian |
Hệ thống, liên tục; không gian cụ thể; thời gian tuyến tính hoặc hồi ức có trật tự; tâm lý hóa không - thời gian. |
Phân mảnh, phi tuyến tính, thường biến; không gian biểu tượng, tâm linh, huyền ảo; thời gian tâm lý/trùng điệp. |
| Người kể chuyện & Điểm nhìn |
Ngôi thứ ba toàn tri hoặc ngôi thứ nhất khả tín; điểm nhìn phối cảnh kiểm soát được mạch kể. |
Triệt tiêu người kể chuyện toàn tri; người kể chuyện không đáng tin cậy, đa tiêu điểm, tự tham chiếu. |
| Mô hình kết cấu |
Kết cấu lịch sử - sự kiện; kết cấu tâm lý; bảo lưu tính liên kết chương hồi mạch lạc. |
Kết cấu phân mảnh, xoắn kép, trùng điệp văn bản, siêu tiểu thuyết (metafiction). |
| Ngôn ngữ & Giọng điệu |
Ngôn ngữ quy phạm, giàu chất văn xuôi tự sự chuẩn mực; giọng điệu trang nghiêm, triết lý, chiêm nghiệm. |
Ngôn ngữ phi quy phạm, giàu tính thơ/lắp ghép; giọng điệu giễu nhại, hoài nghi, trào lộng, đa thanh. |
| Chiến lược tự sự |
Bảo lưu "tính chuyện"; tái hiện hiện thực qua "đại tự sự về cá nhân". |
"Phi tâm hóa tự sự"; biến tiểu thuyết thành trò chơi văn bản và ngôn từ. |
| Mô hình thể loại đại diện |
Tiểu thuyết lịch sử (Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Mẫu Thượng Ngàn). |
"Tiểu thuyết mảnh vỡ" (Thoạt kỳ thủy, Chinatown, Đi tìm nhân vật). |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Khái quát diện mạo thể loại: Đưa ra cái nhìn tổng thể, hệ thống về các khuynh hướng vận động của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại, cung cấp cách luận giải văn học sử mang tính lý luận đối với thể loại tiểu thuyết đương đại.
- Xây dựng khung thao tác nghiên cứu: Đề xuất và ứng dụng một mô hình nghiên cứu cấu trúc thể loại mở, kết hợp phân tích nội tại văn bản (cấu trúc hình tượng nghệ thuật và phương thức trần thuật) với tiếp cận xã hội học văn học (mối liên hệ giữa văn bản với bối cảnh xã hội, tâm lý sáng tạo của nhà văn và cơ chế tiếp nhận của độc giả, phê bình).
- Lý giải và dự báo xu thế: Bước đầu lý giải động lực nội tại và nhân tố bên ngoài dẫn đến sự phân hóa khuynh hướng trong tiểu thuyết đương đại; dự báo các khả năng vận động tiếp theo của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
Đề xuất và kiến nghị
- Về mặt phê bình và tiếp nhận: Đổi mới tư duy tiếp nhận văn học, tránh thái độ cực đoan (hoặc quá đề cao, hoặc phủ nhận tuyệt đối) trước các thể nghiệm nghệ thuật mới; sử dụng hệ quy chiếu lý luận linh hoạt để đánh giá đúng giá trị của từng khuynh hướng sáng tác.
- Về mặt nghiên cứu văn học sử: Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu đồng đại và lịch đại, đặt tác phẩm trong cấu trúc thể loại chỉnh thể thay vì chỉ khảo sát các hiện tượng phong cách bề mặt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát văn bản trong phạm vi 10 năm đầu thế kỷ XXI (2000 - 2010), do đó chưa bao quát trọn vẹn các tác phẩm ra đời sau năm 2010. Mặt khác, đối với mảng tiểu thuyết sử thi quy mô đồ sộ (trên 1000 trang), luận án chỉ dừng lại ở mức mô tả khái lược để xác lập bối cảnh đối sánh mà không đi sâu phân tích thống kê chi tiết như hai nhóm A và B.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát tiểu thuyết Việt Nam từ năm 2010 đến nay; đi sâu phân tích sự giao thoa thể loại giữa tiểu thuyết với các thể loại phi hư cấu, văn học mạng và các hình thức tự sự đa phương tiện đương đại.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Lý luận văn học, Văn học Việt Nam; giảng viên giảng dạy văn học đương đại tại các trường đại học và viện nghiên cứu; các nhà phê bình văn học và biên tập viên xuất bản.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Chương 1: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống về cấu trúc thể loại, lược sử quan niệm tiểu thuyết và diễn trình tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX.
- Chương 2 và Chương 3: Cung cấp hệ thống tiêu chí thao tác cụ thể để phân tích nhân vật, không - thời gian, điểm nhìn trần thuật và kết cấu tiểu thuyết.
- Phần phụ lục: Bản dịch học thuật các tiểu luận lý thuyết (Điểm nhìn, Phối cảnh và Thời gian của Will Greenway; Từ Tác phẩm đến Văn bản của Roland Barthes) và các bảng phân tích cấu trúc tác phẩm cụ thể (Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Chinatown).
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ nào để luận án phân chia tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI thành hai nhóm khảo sát chính A và B?
Luận án áp dụng phương pháp quy nạp, xuất phát từ tiêu chí hình thức bề mặt văn bản là dung lượng và quy mô tác phẩm: Nhóm A gồm các tiểu thuyết có quy mô trung bình (300 - 600 trang), duy trì hình thức thể loại truyền thống nhưng có đổi mới; Nhóm B gồm các tiểu thuyết quy mô nhỏ (100 - 250 trang), đại diện cho khuynh hướng cách tân mạnh mẽ về hình thức tự sự.
2. Sự khác biệt cơ bản trong xây dựng hình tượng nhân vật giữa hai nhóm tiểu thuyết là gì?
Nhóm A tập trung xây dựng kiểu nhân vật phức hợp - đa bình diện với tâm lý sâu sắc, tính cách hoàn chỉnh và số phận gắn liền với hoàn cảnh xã hội/lịch sử. Nhóm B chuyển sang xây dựng kiểu nhân vật ký hiệu - biểu tượng và phản nhân vật, trong đó nhân vật bị tước bỏ lý lịch, hành vi mang tính phi lý tính hoặc đóng vai trò như một ký hiệu triết luận.
3. Tổ chức không - thời gian ở khuynh hướng cách tân (Nhóm B) có đặc điểm gì nổi bật?
Không - thời gian trong nhóm B bị giải cấu trúc, mang tính phân mảnh, phi tuyến tính, thường biến và thiếu tính chỉnh thể. Không gian thường mang tính tâm linh, huyền ảo hoặc biểu tượng; thời gian bị tâm lý hóa, lặp lại theo cấu trúc xoắn kép hoặc đảo lộn trật tự niên biểu sự kiện.
4. Vì sao "tiểu thuyết lịch sử" và "tiểu thuyết mảnh vỡ" được xác định là hai mô hình đại diện tiêu biểu cho hai khuynh hướng?
"Tiểu thuyết lịch sử" (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Giàn thiêu) là mô hình tiêu biểu cho nhóm A vì vừa bảo lưu được "tính chuyện", dung lượng lớn và cấu trúc truyền thống, vừa đổi mới qua việc cá nhân hóa lịch sử. "Tiểu thuyết mảnh vỡ" (Thoạt kỳ thủy, Chinatown, Made in Vietnam) là mô hình tiêu biểu cho nhóm B vì thể hiện rõ nét tính chất "phi tâm hóa tự sự", biến tiểu thuyết thành trò chơi ngôn từ và phá vỡ các quy phạm thể loại cổ điển.
5. Luận án kế thừa mô hình cấu trúc thể loại nào làm khung phân tích chính?
Luận án kế thừa và phát triển mô hình cấu trúc thể loại ba bình diện của nhà nghiên cứu N. Tamarchenko (trên nền tảng lý thuyết của M. Bakhtin), phân xuất thành hai cấp độ phân tích: (1) Cấp độ hình tượng thẩm mỹ / siêu văn bản (nhân vật, không - thời gian) và (2) Cấp độ phương thức trần thuật / văn bản (người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu).
Kết luận
Luận án của tác giả Hoàng Cẩm Giang đã thiết lập một hệ thống tiêu chí khoa học dựa trên cấu trúc thể loại để phân tích và bao quát diện mạo tiểu thuyết Việt Nam 10 năm đầu thế kỷ XXI. Công trình chỉ ra sự song hành giữa hai khuynh hướng phát triển chủ đạo: khuynh hướng duy trì hình thức thể loại truyền thống (tiêu biểu là tiểu thuyết lịch sử) và khuynh hướng cách tân hình thức thể loại truyền thống (tiêu biểu là tiểu thuyết mảnh vỡ). Kết quả nghiên cứu đóng góp một mô hình tiếp cận thể loại linh hoạt, kết hợp chặt chẽ giữa thi pháp học cấu trúc và văn học sử, góp phần lý giải quy luật vận động nội tại của văn xuôi đương đại Việt Nam.