đặt vấn đề nghiên cứu tổng thể các tiểu thuyết cùng thời điểm. Thêm nữa, vấn đề cách tân thể loại, so sánh sự khác biệt và biến đổi của tiểu thuyết thời kỳ này với tiểu thuyết những giai đoạn trƣớc cũng chƣa đƣợc chú ý đúng mức. Những thành tựu và điểm dừng của việc nghiên cứu tiểu thuyết đương đại Mặc dù có nhiều khuynh hƣớng, quan điểm tiếp nhận và phê bình khác nhau song tất cả đều đã thể hiện sự quan tâm của độc giả nói chung và giới 13 z phê bình nói riêng với nền tiểu thuyết đƣơng đại – và xa hơn là nền văn học đƣơng đại – của nƣớc nhà. Một số tác phẩm đã dành đƣợc sự đón nhận rộng rãi và đến đƣợc với độc giả ở nhiều tầng lớp khác nhau (nhƣ Tấm ván phóng dao, Cánh đồng bất tận ).
Nhiều bài phê bình đã chỉ ra đƣợc sự đổi mới, bứt phá trong bút pháp, trong phƣơng thức tự sự và đặc biệt là cách tiếp cận hiện thực của các tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, giới hạn chung của các bài viết nói trên là chƣa có tính khái quát về diện mạo chung của tiểu thuyết thời kỳ này; chƣa chỉ ra những nguyên nhân phát triển của chúng - đặc biệt từ phía bản chất thể loại, hay cấu trúc thể loại; chƣa làm rõ sự giao thoa của tiểu thuyết với các thể loại khác nhƣ một trong những động lực thúc đẩy nền văn học chuyển động… Một điều cần bàn đến là tính hệ thống của chúng: các bài phê bình mới chỉ ở dạng lẻ tẻ, chƣa có sự xâu chuỗi các tác giả/tác phẩm lại với nhau trong một bối cảnh chung của nền văn học nƣớc nhà; những ảnh hƣởng ngoại lai của văn chƣơng thế giới; sự đổi thay của đội ngũ sáng tác;…Các tác phẩm thƣờng đƣợc theo dõi nhƣ sự nối tiếp của phong cách và phƣơng hƣớng sáng tác của một tác giả cụ thể từ trƣớc đó mà ít hoặc không đƣợc xem xét nhƣ một sự bứt phá chung của thể loại trong một thời đoạn nhất định; nghĩa là chú ý đến bình diện lịch đại hơn đồng đại hoặc không kết hợp hai bình diện ấy một cách hài hoà, nhuần nhuyễn. Nhiều bài phê bình còn mang tính nhận diện hoặc thể hiện thái độ “cực đoan” trƣớc cái mới (quá đề cao/ quá hạ thấp), do đó đánh mất quan điểm tiếp cận thật sự chân thực, khách quan về tác phẩm. Trả lời cho hàng loạt câu hỏi nêu trên, góp thêm một cái nhìn, một nhận định mang tính lý luận và hệ thống về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại là nhiệm vụ và cũng là mục đích lớn nhất mà luận án này đặt ra.
Mục đích, đố i tƣơ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cƣ́u 3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu Ở luận án này, chúng tôi lựa chọn điểm xuất phát là cấu trúc thể loại, và thông qua lăng kính của cấu trúc thể loại để soi chiếu và tìm ra các khuynh 14 z hướng tiểu thuyết khác nhau trong nền văn học đương đại, từ sự vận động thể loại trong mạch tiếp nối với dòng chảy tiểu thuyết của các thế hệ nhà văn trƣớc đó. Đúng nhƣ tiêu đề: “Các khuynh hƣớng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại”, đối tƣợng chủ yếu mà luận án hƣớng tới chính là các tiểu thuyết Việt Nam ra đời trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XXI. Đối tƣợng mà chúng tôi gọi là “tiểu thuyết Việt Nam” này – tất nhiên là các tác phẩm đƣợc viết bằng tiếng Việt, đƣợc xuất bản trong nƣớc hoặc ngoài nƣớc, song đều nhận đƣợc sự quan tâm của độc giả Việt Nam nói chung và giới phê bình nói riêng.
Do lựa chọn riêng của ngƣời viết luâ ̣n án đối với vấn đề vừa nêu , chúng tôi muốn có những luận giải chi tiết trƣớc khi nói về “phạm vi nghiên cứu” đƣơ ̣c xác định. Phạm vi nghiên cứu 3. Từ bình diện lý luận thuần túy, chúng ta thấy rằng sự phát triển của một thể loại trong một thời kỳ so với một thời kỳ khác bao giờ cũng có tối đa ba khả năng xảy ra – thứ nhất, thể loại đó duy trì theo hướng bảo lưu trung thành mô hình truyền thống; thứ hai, thể loại đó cách tân một cách quyết liệt so với mô hình truyền thống nhằm vượt thoát ra ngoài khuôn khổ thể loại; và thứ ba, thể loại đó vừa duy trì vừa cách tân song sự cách tân ấy không phá vỡ mô hình truyền thống. Với một thời kỳ mang tính chất chuyển giao mạnh mẽ nhƣ văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI (khi “cảm quan hậu hiện đại” bắt đầu tràn vào và ảnh hƣởng rõ nét đến đời sống văn chƣơng), thì cả ba khả năng đó đều có thể xảy ra đồng t hời, tạo thành ba “lối rẽ”, ba “ngả đƣờng” khác nhau của thể loại.
Từ đó, chúng tôi đƣa ra một “giả thuyết khoa học”: tiểu thuyết Việt Nam hiện nay đang phát triển theo ba khuynh hƣớng nêu trên. Toàn bộ luận án sẽ là quá trình khảo sát, phán đoán và cuối cùng đi đến kết luận về 15 z giả thuyết đó (theo hƣớng khẳng định hoặc phủ định). Vì thế, chúng tôi sẽ tiến hành công trình của mình theo hƣớng “quy nạp” hơn là “diễn dịch”. Trƣớc hết, trên bề mặt văn bản, chúng tôi chia tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI thành ba “mảng” tác phẩ m – chủ yếu dựa trên những yếu tố “bề nổi” có thể nhận thấy một cách dễ dàng – đó là độ dài, dung lƣợng và quy mô tác phầm2: Mảng thứ nhất gồm các “tiểu thuyết nghìn trang” có quy mô đồ sộ và hƣớng về các tự sự mang tầm sử thi, thời đại: Đường thời đại (Đặng Đình Loan), Thượng Đức (Nguyễn Bảo), Ngày rất dài (Nam Hà), Những cánh rừng lá đỏ (Hồ Phƣơng), Những bức tường lửa (Khuất Quang Thụy)… Mảng thứ hai gồm các tiểu thuyết có quy mô và độ dài trung bình (khoảng 300 - 600 trang), chủ yếu tập trung vào chủ đề lịch sử và thế sự - đời tƣ: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Dòng sông Mía (Đào Thắng), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Tìm trong nỗi nhớ (Lê Ngọc Mai )… Mảng thứ ba gồm các tiểu thuyết có quy mô “nhỏ”, độ dài trung bình thƣờng dao động từ 100 đến 250 trang, với sự biến mất hầu nhƣ hoàn toàn của đề tài lịch sử: Thoạt kỳ thủy, Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình Phƣơng); Made in Vietnam, Chinatown, Paris 11 tháng 8 (Thuận); Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh); Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà); Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phƣợng); Song song, Bờ xám (Vũ Đình Giang); Giữa vòng vây trần gian (Nguyễn Danh Lam);… Trong quan niệm của chúng tôi , hai mảng đầu tiên khá gần gũi nhau ở một điểm: đều hƣớng về mục đích bảo lƣu “diện mạo” quen thuộc của tiểu thuyết – nghĩa là một tự sự có “quy mô lớn” , dung lƣợng lớn.
Mảng thứ ba là 2 Sở dĩ chúng tôi lựa chọn lối phân chia dựa trên yếu tố “dung lƣợng” do xác định mối quan hệ ngầm song rất chặt chẽ giữa “dung lƣợng tác phẩm tự sự” với bản thân các thể loại nhƣ tiểu thuyết, truyện ngắn. Rõ ràng, vấn đề “dài”/”ngắn” hay “đồ sộ”/”gọn ghẽ” đều có liên quan mật thiết đến chiến lƣợc viết của từng thể loại (vấn đề này trong những chƣơng tiếp theo của luận án). Bên cạnh đó, chúng tôi lựa chọn một yếu tố mang tính “bề nổi” nhƣ vậy lại cũng để tuân thủ phƣơng thức “quy nạp” đã đặt ra ngay từ đầu – nghĩa là không cố gắng đƣa tới một cách phân chia mang tính áp đặt đối với những đặc trƣng khái quát “bên trong” của các nhóm tiểu thuyết. Điều này chỉ thực sự đƣợc rút ra sau khi luận án đã phân tích kĩ lƣỡng từng nhóm tiểu thuyết với các tiêu chí cụ thể (chƣơng 2, chƣơng 3).
16 z những tác phẩm tạo cho mình một dáng vẻ khác hẳn hai mảng trên. Trên tinh thần ấy, luận án sẽ tạm chia phạm vi nghiên cứu thành hai nhóm lớn: A và B – A bao gồm mảng thứ nhất và thứ hai, B là toàn bộ mảng thứ ba. Trong bản thân nhóm A , chúng tôi nhận thấy hai mảng “thứ nhất” và “thứ hai” vƣ̀a nêu chính là hai “xu thế nhỏ” của nhóm : xu thế duy trì theo hướng “bảo lưu” diện mạo thể loại và xu thế duy trì theo hướng đổi mới diện mạo thể loại. Luận án không đặt trọng tâm vào xu thế thứ nhất , bởi chúng tôi cho rằng đó vẫn là một sự “nối dài miệt mài” của dòng chảy quá khứ - với sƣ̣ “bất động” trong đề tài/chủ đề lẫn cấu trúc tự sự so với những “tiểu thuyết cách mạng” trƣớc đây.
Các tác giả của Thượng Đức, Ngày rất dài, Đường thời đại… dƣờng nhƣ không thể hoặc không có ý định vƣợt qua quán tính quá khứ - cụ thể hơn là những “khung hình” quen thuộc của nền văn học 1945 - 1975. Đề cao tính biên niên sử của tiể u thuyế t , xem nhẹ tính hƣ cấu văn chƣơng: quan niệm ấ y đồ ng thời đã cắ t giảm tính sáng tạo cá nhân của tác giả. Và cũng vì vậy, xu thế này không được xem là đối tượng nghiên cứu chính của luận án. Bởi lẽ khi nghiên cứu các “khuynh hƣớng tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI”, chúng tôi luôn đặt sự chú ý đặc biệt vào mối quan hệ giữa cái bất biến, cái ổn định với cái chuyển động, cái biến cải – để từ đó thấy đƣợc sự phát triển và đổi thay của cấu trúc hình thức tiểu thuyết giai đoạn này với các giai đoạn trƣớc đó.
Khi một tác phẩm thuộc một giai đoạn mới ra đời mà vừa không thay đổi quan niệm nghệ thuật, vừa không thay đổi hình thức thể loại so với các giai đoạn trƣớc đó, thì nó cũng chẳng còn mấy ý nghĩa về mặt lịch sử thể loại (chúng tôi không nói về mặt giá trị tác phẩm). Chính vì vậy, với xu thế nêu trên, chúng tôi chỉ dừng lại ở mức mô tả khái lược, chứ không đi sâu thống kê – phân tích nhƣ với xu thế thứ hai (từ đây sẽ “đại diện” cho toàn bộ nhóm A). Mục đích của việc mô tả này nhằ m phác ho ̣a mô ̣t bức tranh toàn cảnh của các xu thế và khuynh hƣớng phát triển chủ yếu của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI.