CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 1. QUAN ðIỂM, VAI TRÒ, ðẶC ðIỂM PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 1. Quan ñiểm phát triển tiểu thủ công nghiệp - Khái niệm phát triển: Phát triển là sự tăng trưởng cộng thêm các thay ñổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế. Sự tăng lớn của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiêp tạo ra, sự ñô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc một quốc gia trong quá trình tạo ra thay ñổi nói trên là những nội dung của phát triển.
Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khoẻ, và ñảm bảo sự bình ñẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân, củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người, trong mối quan hệ ñối với Nhà Nước. Một quan niệm khác cho rằng “Phát triển là việc tạo ñiều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi nào ñều thoả mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, ñảm bảo chất lượng cuộc sống, có trình ñộ học vấn cao, ñược hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần, có ñủ ñiều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, ñược hưởng các quyền cơ bản của con người và ñược ñảm bảo an ninh an toàn không có bạo lực. Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về phát triển, nhưng các ý kiến ñều thống nhất rằng, phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân.
Phát triển thể hiện ở phát triển chiều sâu và chiều rộng. Phát triển chiều Luan van 10 sâu phản ánh về sự thay ñổi về chất lượng của ngành sản xuất và của nền kinh tế và xã hội ñể phân biệt các trình ñộ khác nhau trong sự tiến bộ của xã hội. Phát triển theo chiều rộng là việc tăng về quy mô, số lượng, ña dạng về hiện tượng kinh tế xã hội. Sự phát triển không chỉ ñược ñánh giá bằng GNP hoặc GDP tính bình quân trên ñầu người dân, mà còn bằng một số chỉ tiêu khác phản ánh sự tiến bộ của xã hội như cơ hội về giáo dục, nâng cao sức khỏe cộng ñồng, tình trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị cuộc sống, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
- Phát triển kinh tế: là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng. Nhưng không phải tăng trưởng nào cũng dẫn ñến phát triển. Phát triển kinh tế ñòi hỏi phải thực hiện 3 nội dung cơ bản sau: Một là, các chỉ tiêu ñánh giá tăng trưởng kinh tế ñược xác ñịnh theo chỉ tiêu hệ thống tài sản quốc gia (SNA) gồm chỉ tiêu: Tổng giá trị sản xuất (GO),tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNP); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập quốc dân sử dụng (NDI); thu nhập bình quân ñầu người; chỉ số về liên kết kinh tế; chỉ số về mức tiết kiệm ñầu tư.
Nội dung này phản ánh mức ñộ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất ñịnh. Hai là, sự biến ñổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỉ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong GNP tăng lên, tỉ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình ñộ kỹ thuật của nên sản xuất ñể có thể ñảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Ba là, mức ñộ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mọi người dân ñược hưởng.
Nhu cầu cơ bản của con người như mức sống, giáo dục, trình ñộ Luan van 11 dân trí, tuổi thọ bình quân, chăm sóc sức khoẻ, dân số và việc làm: chỉ tiêu nghèo ñói và bất bình ñẳng. Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là: + Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số. + Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ ñể ñảm bảo tăng trưởng bên vững. + Tăng trưởng kinh tế phải ñi ñôi với công bằng xã hội, tạo ñiều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong ñóng góp và hưởng thụ kết quả của tăng trưởng kinh tế.
+ Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến ñổi nhu cầu của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. - Nghề thủ công: là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công ñoạn, phần việc nhất ñịnh nhưng phần quyết ñịnh chất lượng và hình thức ñặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay ñơn giản.
- Thủ công mỹ nghệ: là các nghề thủ công làm ra các sản phẩm mỹ nghệ hoặc các sản phẩm tiêu dùng ñược tạo hình và trang trí tinh xảo giống như sản phẩm mỹ nghệ. Ở sản phẩm mỹ nghệ, chức năng văn hóa, thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường - Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công. Cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công. - Ngành công nghiệp nhỏ: là lĩnh vực sản xuất bao gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ.
Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành. Luan van 12 - Làng nghề tiểu thủ công nghiệp: là làng có nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển với một tỷ lệ số hộ và tỷ lệ thu nhập từ nghề TTCN nhất ñịnh, trở thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếu ñược của người dân trong làng. Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%, ở Việt Nam ñang có xu hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhập của làng từ nghề thủ công. Tỷ lệ ñó ñược duy trì và ổn ñịnh trong nhiều năm.
Có thể hiểu tiểu thủ công nghiệp là: - Ngành sản xuất thủ công là chủ yếu, có thể sử dụng tiến bộ kỹ thuật cho một số công ñoạn nhưng chất lượng và ñặc trưng của sản phẩm vẫn do thủ công quyết ñịnh. - Quy mô của các cơ sở sản xuất TTCN nhỏ. - Ngành nghề TTCN gắn liền với ñời sống của người dân nông thôn,mang giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. - Phát triển tiểu thủ công nghiệp là: quá trình lớn lên cả về mặt lượng và sự thay ñổi về mặt chất.
Về mặt lượng thể hiện ở sự gia tăng qui mô các yếu tố ñầu vào như vốn, lao ñộng, kỹ thuật, số lượng cơ sở sản xuất.từ ñó gia tăng kết quả ñầu ra của lĩnh vực CN-TTCN. Về mặt chất thể hiện ở việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố nguồn lực, gia tăng mức ñóng góp của CN-TTCN trong cơ cấu giá trị sản phẩm, thu nhập người lao ñộng ngày càng tăng… ñem lại kết quả và hiệu quả sản xuất phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển tiểu thủ công nghiệp là một hướng ñi cơ bản, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế giao thoa của nghệ thuật và kỹ thuật nhưng vẫn lưu giữ thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc một cách ñầy ñủ và tinh tế nhất và bảo vệ môi trường. Vai trò của phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp Tại Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương ðảng (Khóa IX) ñã nêu rõ tầm quan trọng của việc phát triển các ngành nghề nông thôn và khẳng ñịnh rõ việc công nghiệp hóa, hiện ñại hóa nông nghiệp, nông thôn là một Luan van 13 trong những nhiệm vụ hàng ñầu của công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước.
Việc phát triển ngành TTCN có những vai trò to lớn ñáp ứng yêu cầu và nội dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước ñồng thời cũng góp phần quan trọng trong sự phồn vinh từng bước ñi lên của ñất nước. - Phát triển ngành TTCN sẽ tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao ñộng, ổn ñịnh cuộc sống, góp phần hạn chế di dân tự do. Phát triển kinh tế xã hội nông thôn, tạo việc làm nâng cao ñời sống cho dân cư nông thôn là vấn ñề quan trọng hiện nay ở nước ta. Với diện tích ñất canh tác bình quân vào loại thấp và tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao.
Do vậy, vấn ñề giải quyết công ăn việc làm cho lao ñộng nông thôn trở nên hết sức khó khăn, phức tạp. Việc mở mang, ñầu tư phát triển ngành nghề ở các làng nghề là biện pháp tốt nhất ñể huy ñộng nguồn lao ñộng này. Bởi vì, sản xuất TTCN chủ yếu thực hiện bằng tay, không ñòi hỏi cao về chuyên môn, kỹ thuật so với các lĩnh vực sản xuất khác. Các cơ sở sản xuất TTCN tuy có quy mô nhỏ, thậm chí chỉ là sản xuất của các hộ gia ñình nhưng ñã thu hút một số lượng khá lớn lao ñộng nông thôn vào hoạt ñộng sản xuất phi nông nghiệp.
Vì vậy sức ép về mức bình quân ruộng ñất trên ñầu người giảm ñi, số nông dân rời bỏ làng ra thành thị tìm việc làm cũng ít ñi. Ngành nghề thủ công ñã tạo việc làm cho khoảng 30% lực lượng lao ñộng ở nông thôn. Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm ổn ñịnh cho 27 lao ñộng, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao ñộng. Ngoài lao ñộng thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành nghề còn thu hút lao ñộng nhàn rỗi ở nông thôn (bình quân 2-5 người/hộ, 8-10 người/cơ sở).
ðặc biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre ñan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao ñộng. Nhiều làng nghề thu hút trên 60% lao ñộng tham gia vào các hoạt ñộng ngành nghề.