Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP 1. QUAN NIỆM VÀ VAI TRÒ VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP 1. Quan niệm về phát triển tiểu, thủ công nghiệp 1. Tiền đề ra đời tiểu, thủ công nghiệp Trong lịch sử, thủ công nghiệp (TCN) trở thành ngành kinh tế (KT) độc lập từ thời cổ đại ở Hy lạp, Ai cập, Trung Quốc, Ấn Độ…Nguyên nhân TCN ra đời là do sự phát triển của phân công lao động xã hội.
Lịch sử xã hội loài người đã qua bốn lần phân công lao động xã hội lớn điển hình, theo đó lực lượng sản xuất xã hội có những bước phát triển vượt bậc so với trước đó; trong đó từ sự phân công lao động xã hội lần thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp (NN), nghề TCN trở thành một nghề riêng biệt, một ngành có tính chất độc lập so với NN. Trong sự phân công lao động lớn thứ nhất, nghề chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, chưa có nền sản xuất hàng hoá thật sự, nhưng bắt đầu hình thành trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất. Nhà kinh tế học C.Mác có viết “Dĩ nhiên, những người thợ thủ công ở thành thị từ đầu đã buộc phải sản xuất để trao đổi” [3,378]. Trong sự phân công lao động lớn lần thứ hai, diễn ra kết quả “thủ công nghiệp đã tách khỏi NN” [4,250- 253].
Vì nền sản xuất bị tách ra làm hai ngành chính, NN và TCN, đã ra đời nền sản xuất hàng hoá, sự trao đổi giữa những người sản xuất riêng biệt đã trở thành tất yếu của xã hội. “Thủ công nghiệp” là một nghề thủ công, hình thức sản xuất công nghiệp dựa trên quy mô nhỏ, công cụ lao động đơn giản và chủ yếu dựa vào sự khéo léo của bàn tay người thợ thủ công. Khi khoa học - kỹ thuật phát triển, khái niệm “thủ công nghiệp” có những nội dung khác so với trước đây. Người thợ thủ công hiện đại có thể sử dụng máy móc để phát lực, truyền lực, máy công tác và kết hợp với 6 đôi bàn tay khéo léo để tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính nhân tạo, có giá trị thẩm mỹ cao.
Khái niệm “tiểu công nghiệp” và “thủ công nghiệp” hiện nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi.I Lênin khi phê phán sai lầm của những nhà KT học dân tuý đưa ra khái niệm về tiểu công nghiệp [23,393-395]. Để phân biệt “thủ công nghiệp" với "tiểu công nghiệp", Lênin đã viện dẫn ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản công nghiệp ở Nga: “đặc điểm của tiểu sản xuất hàng hoá là kỹ thuật thủ công hoàn toàn nguyên thủy, từ xưa đến nay kỹ thuật ấy vẫn không thay đổi. Người làm nghề thủ công vẫn là nông dân, họ chế biến nguyên liệu theo phương pháp truyền thống. Công trường thủ công (CTTC) dựa trên phân công lao động, do đó kỹ thuật được cải biến căn bản, nông dân biến thành thợ bạn, thành công nhân bộ phận” [24,685-687].
Đặc trưng của tiểu sản xuất hàng hoá và CTTC là các xí nghiệp nhỏ chiếm ưu thế. Tính chất của sản xuất cũng khác nhau trong các giai đoạn phát triển. Trong các nghề thủ công nhỏ, thị trường và quy mô sản xuất nhỏ hẹp dễ thích hợp với nhu cầu địa phương; sản xuất ở giai đoạn này ổn định cao nhất, nhưng tình trạng kỹ thuật bị đình đốn. CTTC sản xuất cho thị trường lớn, có khi thị trường toàn quốc, nên sản xuất của nó có tính ổn định, tính chất này thể hiện cao nhất trong sản xuất công xưởng tư bản chủ nghĩa.
Như vậy giai đoạn phát triển CTTC gần với khái niệm "tiểu công nghiệp", sự khác nhau giữa chúng chỉ là ở trình độ phân công lao động, tiến bộ kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu, quy mô tổ chức sản xuất phân tán hay tập trung. “Tiểu công nghiệp” là hình thức công nghiệp sử dụng công cụ lao động nửa cơ khí để chế biến nguyên liệu. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ nhất khởi đầu ở nước Anh thế kỷ 18, máy móc thay thế công cụ thủ công, sự phát minh và ứng dụng máy hơi nước có tác dụng then chốt trong sản xuất lớn TBCN. Máy móc ban đầu là sự kết hợp của ba bộ phận công tác, phát lực và truyền lực, sau đó có thêm bộ phận điều khiển tự động, sử dụng rộng rãi sức điện và vật liệu mới.
Nhưng nếu vẫn sử dụng sức người thay cho máy phát lực, thì lao động bằng máy công tác đó là lao động nửa cơ khí. Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp * Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp của các nhà kinh tế học thế giới: Ngày nay có hai quan niệm về TTCN: một là, tiểu công nghiệp; hai là, thủ công nghiệp: Về “tiểu công nghiệp”, mỗi quốc gia đều đề ra các quy định về "tiểu công nghiệp" có tính chất hành chính, pháp lý, để phân biệt với “đại hay trung công nghiệp”. Khái niệm này làm cơ sở cho việc thi hành các chính sách riêng khu vực "tiểu công nghiệp". Mỗi quốc gia, trong các thời kỳ khác nhau, có chính sách khác nhau trong ưu tiên về tín dụng, nguyên liệu, cố vấn kỹ thuật, trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội (KT – XH) khác nhau, vì thế khái niệm về tiểu công nghiệp cũng khác nhau: - Ở Nhật Bản, luật ban hành năm 1957 quy định: các xí nghiệp sử dụng dưới 300 công nhân, mức vốn dưới 10 triệu yên, được thừa nhận hợp pháp là "tiểu công nghiệp", được hưởng những chính sách tài trợ về tiểu công nghiệp.
- Ở Mỹ có quy định: dưới 250 công nhân được xem là "tiểu công nghiệp", và "tiểu công nghiệp" còn được phân biệt theo bộ hoặc cơ quan quản lý nhà nước. Trong ngành công nghiệp chế tạo vẫn lấy số lượng công nhân làm cơ sở, nhưng ngành dịch vụ chủ yếu lấy số bán ra hay số thu hàng năm làm tiêu chuẩn. - Ở Ấn Độ khái niệm về "tiểu công nghiệp", trước năm 1960 mức quy định là dưới 100 công nhân nếu không dùng năng lượng, hay dưới 50 công nhân nếu có sử dụng năng lượng; đến năm 1960 quy định chủ yếu căn cứ vào mức vốn “không quá 500.000 ru pi hay 1 triệu ru pi trong một số trường hợp đặc biệt” [14, 9-10]. Do có sự xác định khác nhau, nên năm 1952 Uỷ ban KT của Liên hiệp quốc đưa ra định nghĩa để chuẩn hoá các thuật ngữ được sử dụng.
Theo đó, công nghiệp sản xuất quy mô nhỏ là loại xí nghiệp chủ yếu sử dụng nhân công được trả lương, số lượng không quá 50 người ở mọi cơ sở sản xuất không dùng động lực hay dùng không quá 20 người trong một xí nghiệp có dùng động lực [14, 11]. 8 Vì để có một khái niệm "tiểu công nghiệp" dùng chung cho các nước là rất khó, nên người ta dùng một loại “khái niệm phân tích” nêu bật các đặc điểm cơ bản về số lượng, chức năng, tính chất, cơ cấu…của doanh nghiệp, với 4 đặc trưng sau: - Sự chuyên môn hoá ở mức độ thấp về quản lý và lãnh đạo xí nghiệp. - Vai trò cá nhân chủ xí nghiệp về những mối liên hệ tiếp xúc chặt chẽ với khách hàng, tính mềm dẻo trong sản xuất hoặc giao dịch, quan hệ chủ với thợ; tính linh hoạt trong các chính sách đối với tiểu công nghiệp. - Những điểm mạnh, yếu về phương diện vốn và tín dụng như: khó vay vốn ở ngân hàng hơn các xí nghiệp lớn, nhưng dễ huy động vốn từ bà con hay bạn bè để thành lập, phát triển sản xuất.
- Tính chất đa dạng của nền sản xuất TTCN, cần áp dụng mềm dẻo các biện pháp, chính sách, một sự chỉ đạo, một chương trình phát triển chuyên biệt. Về “thủ công nghiệp”, người ta vẫn coi TCN là một thành phần, một dạng thức, một loại “tiểu công nghiệp”. Hai loại định nghĩa về tiểu công nghiệp và TCN bổ sung cho nhau, nhưng không thể sử dụng toàn cầu. Để nghiên cứu sâu các vấn đề về "tiểu công nghiệp" và TCN, cần một mốc chuẩn nào đó [14,14].
* Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp ở Việt Nam Về khái niệm “thủ công nghiệp”: thủ công nghiệp hay nghề thủ công được hiểu là một hình thức công nghiệp sử dụng công cụ cầm tay, để chế biến nguyên liệu ra sản phẩm. Hình thức nguyên thủy của nó là sự tác động của tay hoặc chân người lao động lên đối tượng lao động thông qua công cụ lao động. Đặc trưng của thủ công nghiệp là công cụ cầm tay hay cải tiến. Về “tiểu công nghiệp”: tiểu công nghiệp có thể hiểu, bao gồm những đơn vị sản xuất công nghiệp có trang bị kỹ thuật tương đối cao hơn thủ công nghiệp.
Ở một số khâu, bộ phận chủ yếu trong dây chuyền sản xuất có thể được trang bị máy móc hiện đại, được chuyên môn hoá để sản xuất ra các chi tiết, bộ phận, sản phẩm hoàn chỉnh. Sự khác nhau căn bản giữa tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là ở trình độ kỹ thuật của tư liệu sản xuất. Giữa chúng có điểm giống nhau dựa trên quy mô sản xuất nhỏ, đã tồn tại một nền ĐCN, và chúng là bộ phận công nghiệp phụ trợ. 9 Để phân biệt với ĐCN, trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay, khái niệm tiểu công nghiệp không chỉ dựa vào hai chỉ tiêu về vốn và lao động; mà cần bổ sung thêm 2 chỉ tiêu: độ phức tạp của quản lý, hiệu quả sản xuất kinh doanh; để làm rõ danh giới giữa tiểu công nghiệp và đại công nghiệp.
- Về độ phức tạp của quản lý có 5 yếu tố: quy mô vốn sản xuất kinh doanh, doanh thu và thu nhập khác, đầu mối quản lý, trình độ công nghệ sản xuất (cao, trung bình, thấp), lao động sử dụng. - Về hiệu quả sản xuất kinh doanh có 3 yếu tố: số nộp ngân sách nhà nước, lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Căn cứ vào 8 yếu tố quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2005/TTLT: Bộ LĐTB&XH và Bộ Tài chính [11], để phân hạng doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo Luật doanh nghiệp và vận dụng để xếp hạng doanh nghiệp ở các thành phần KT khác: - Doanh nghiệp nhà nước được phân ra 5 hạng: Tổng công ty đặc biệt và tương đương, Tổng công ty và tương đương; đối với công ty được xếp thành 3 hạng: từ hạng I đến hạng III với quy mô nhỏ dần. - Việc xếp hạng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ như: phân loại, chọn chỉ tiêu, xác định tỷ trọng và cho điểm dựa theo ngành KT - kỹ thuật, bảo đảm tương quan hợp lý trong xếp hạng.