phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo. Nội dung chính của luận văn chia thành 03 Chƣơng: Luan van 6 Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thƣơng hiệu và phát triển thƣơng hiệu địa phƣơng đối với nhà đầu tƣ. Chƣơng II: Thực trạng phát triển thƣơng hiệu thành phố đà nẵng đối với nhà đầu tƣ dựa trên chỉ số PCI Chƣơng III: Giải pháp phát triển thƣơng hiệu thành phố Đà Nẵng đối với với nhà đầu tƣ dựa trên chỉ số PCI 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6.
Lê Anh Cƣờng, năm 2003, “Tạo dựng và quản trị thƣơng hiệu. Danh tiếng - Lợi nhuận” Cuốn sách “Tạo dựng và quản trị thƣơng hiệu. Danh tiếng - Lợi nhuận” đề cập đến những nội dung mang tính lý thuyết về: Thƣơng hiệu và tầm quan trọng của thƣơng hiệu; sự hình thành giá trị thƣơng hiệu; Các chiến lƣợc quản trị và phát triển thƣơng hiệu; cách thức quảng bá và sử dụng các phƣơng tiện truyền thông nhằm tạo dựng thƣơng hiệu có giá trị; Các đối tƣợng sở hữu công nghiệp, khái niệm và trình tự thủ tục xác lập quyền sở hữu độc quyền tại Việt Nam. Nghiên cứu của Phạm Thế Anh và Chu Thị Mai Phƣơng (2015) Nghiên cứu phân tích tác động của môi trƣờng thể chế đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nƣớc giai đoạn 2006 – 2012 ở Việt Nam.
Với dữ liệu về doanh nghiệp đƣợc chiết xuất từ bộ điều tra doanh nghiệp (GES) thực hiện bởi Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 2006 – 2012 và dữ liệu về thể chế môi trƣờng kinh doanh đƣợc khai thác từ bộ dữ liệu đánh giá Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI từ năm 2006. Tác giả sử dụng mô hình RE và phƣơng pháp ƣớc lƣợng GLS để ƣớc lƣợng các nhân tố thể chế môi trƣờng kinh doanh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy các yếu tố: tiếp cận và ổn định sử dụng đất đai, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, pháp lý và bảo vệ hợp đồng tác động Luan van 7 đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nƣớc, trong khi đó các yếu tố: chi phí gia nhập thị trƣờng, chi phí tiếp cận và ổn định khi sử dụng đất đai có tác động mạnh lên kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI. Nghiên cứu của PGS.TS Lê Văn Huy, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.
Bài báo “Định vị và maketing thƣơng hiệu địa phƣơng đối với nhà đầu tƣ: nghiên cứu dựa trên chỉ số PCI các tỉnh duyên hải Miền Trung” của PGS.TS Lê Văn Huy đã tiến hànhđƣa ra nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Việt Nam và cho rằng các địa phƣơng có thể sử dụng nhƣ hệ thống các thuộc tính để định vị nhằm truyền thông và phát triển hình ảnh của địa phƣơng mình. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu trung bình của các năm từ 2009 đến 2011 của 9 chỉ số thành phần trong việc phân tích định vị thông qua biểu đồ nhận thức. Phƣơng pháp định vị MDS (Multidimensional Scaling) theo kỹ thuật ALSCAL dựa trên các chỉ số thành phần PCI cho phép hình thành biểu đồ nhận thức bằng phần mềm SPSS 20.0, từ đó xác định các thuộc tính cơ bản cho xây dựng và phát triển thƣơng hiệu. Nghiên cứu của Trần Hoài Nam (2012) Đánh giá tác động của chỉ số năng lực canh tranh cấp tỉnh PCI đến thu hút vốn đầu tƣ của địa phƣơng tại Việt Nam.
Trần Hoài Nam (2012) sử dụng dữ liệu bảng với 255 quan sát cùng thời gian nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2010 của 55 tỉnh thành trong cả nƣớc. Trong nghiên cứu này, tác giả không đƣa 8 tỉnh thành vào phạm vi nghiên cứu đó là: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ là 5 thành phố lớn trực thuộc Trung ƣơng, các thành phố này có ƣu thế vƣợt trội về thu hút đầu tƣ so với các địa phƣơng khác. Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Sơn La là các tỉnh có dự án trọng điểm quốc gia nhƣ: dự án khí điện đạm (Bà Rịa – Vũng Tàu), nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quốc (Quãng Ngãi) và nhà máy thủy điện Sơn Luan van 8 La, các dự án này có vốn đầu tƣ cao hơn nhiều so với vốn sản xuất kinh doanh hiện tại của địa phƣơng. Tác giả cho rằng, nếu đƣa các tỉnh này vào sẽ làm sai lệch số liệu trong quá trình hồi qui.
Bằng việc xây dựng 2 mô hình hồi kinh tế lƣợng để nghiên cứu tác động với biến phụ thuộc là vốn sản xuất kinh doanh. Mô hình thứ nhất, đánh giá sự tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đến giá trị đầu tƣ và mô hình thứ hai nghiên cứu ảnh hƣởng của các chỉ số thành phần PCI đến giá trị đầu tƣ. Kết quả hồi qui cho thấy có sự tác động của PCI đến đến thu hút đầu tƣ của các địa phƣơng, cụ thể: địa phƣơng nào có điểm PCI cao hơn 1 điểm thì sẽ thu hút đầu tƣ cao hơn 5,7%. Nghiên cứu của Lê Công Hƣớng (2013) Lê Công Hƣớng (2013) nghiên cứu “Các thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tác động đến thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) tại các địa phƣơng của Việt Nam”.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mối quan hệ tác động giữa các chỉ số thành phần của PCI đến việc thu hút vốn FDI vào các địa phƣơng. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu của VCCI về kết quả điều tra các chỉ số thành phần của PCI trong phạm vi 63 tỉnh/thành của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012. Biến phụ thuộc là vốn FDI đăng ký mới, các biến độc lập gồm có 9 chỉ số thành phần của PCI và các biến kiểm soát là GDP, sân bay, cảng biển, diện tích đất của từng địa phƣơng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) biến “thiết chế pháp lý” có ảnh hƣởng tích cực đến việc thu hút vốn đăng ký của FDI; (ii) biến “tiếp cận đất đai” có ảnh hƣởng tiêu cực đến việc thu hút vốn FDI vào các địa phƣơng; (iii) Địa phƣơng có cảng biển dễ thu hút vốn FDI hơn; (iv) các chỉ số thành phần khác của PCI và các biến kiểm soát khác không có ảnh hƣởng đến việc thu hút vốn FDI.6 Nghiên cứu của Vũ Thị Xuân Lan (2013) Luan van 9 Nghiên cứu về “Mối liên hệ giữa các chỉ số thành phần của PCI với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI tại Việt Nam”.
Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi 34 tỉnh/thành của Việt Nam, giai đoạn 2007-2012. Đề tài nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết là Lý thuyết Cạnh tranh Quốc gia, Lý thuyết vốn và Lý thuyết tiếp thị địa phƣơng cùng những nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đó kết hợp với bộ dữ liệu thứ cấp lấy từ nguồn của cơ quan xây dựng chỉ số PCI, Tổng cục Thống kê và Bộ Công Thƣơng. Kết quả của nghiên cứu xác định đƣợc mối liên hệ giữa FDI và PCI là cùng chiều, cụ thể hơn là ba (3) chỉ số thành phần sau của PCI có ảnh hƣởng đến sự tăng giảm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam là chi phí không chính thức, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động. Ngoài ra, giá trị FDI năm trƣớc cũng có tác động đến giá trị FDI của năm hiện tại.
Tất cả các chỉ số thành phần đều thuộc quá khứ nếu có xét độ trễ thời gian, điều này cho thấy các địa phƣơng nếu muốn cải thiện khả năng cạnh tranh, thu hút nhà đầu tƣ thì cần có chiến lƣợc lâu dài. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2005) Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện tại tỉnh Tiền Giang năm 2005 là nghiên cứu đầu tiên ứng dụng lý thuyết marketing địa phƣơng của Philip Kotler để xây dựng mô hình nghiên cứu định lƣợng về sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các thuộc tính địa phƣơng. Theo đó, các thuộc tính địa phƣơng đƣợc các doanh nghiệp quan tâm gồm 3 nhóm thuộc tính: (1) nhóm các thuộc tính về cơ sở hạ tầng đầu tƣ, (2) nhóm các thuộc tính về chế độ, chính sách, dịch vụ đầu tƣ và kinh doanh, (3) nhóm thuộc tính môi trƣờng sống và làm việc. Luan van 10 Bằng phƣơng pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định thang đo (Cronbach Alpha) và qua kỹ thuật hồi quy tuyến tính bội cho thấy có 4 biến thuộc tính địa phƣơng: (1) hỗ trợ của chính quyền, (2) ƣu đãi đầu tƣ, (3) đào tạo kỹ năng, (4) môi trƣờng sống và một biến đặc điểm doanh nghiệp (loại hình doanh nghiệp) có ảnh hƣởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp.
Nhóm tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp phân tích vị trí đa hƣớng nhằm xác định vị trí địa phƣơng so với các địa phƣơng cạnh tranh (TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long) thông qua 4 biến trên. Kết quả cho thấy, Tiền Giang đƣợc đánh giá cao nhất ở thuộc tính môi trƣờng sống. Thuộc tính kỹ năng lao động và chính sách ƣu đãi đầu tƣ đƣợc đánh giá rất thấp, chỉ xếp thứ 5 trong 7 tỉnh thành so sánh.
Kết quả nghiên cứu của Thọ và Trang cũng cho thấy các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp tại Tiền Giang là các yếu tố nguồn lực mềm, các yếu tố cứng (cơ sở hạ tầng) không ảnh hƣởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp. Điều này chƣa đƣợc các tác giả nhắc đến trong nghiên cứu của mình. Qua xem xét tổng quan các nghiên cứu trƣớc, nhận thấy đa số các nghiên cứu sử dụng chỉ số PCI và các chỉ số thành phần của PCI để đánh giá tác động đến: dòng vốn FDI của địa phƣơng, việc thu hút FDI vào các địa phƣơng tại Việt Nam, đến đầu tƣ tƣ nhân, hình thức kinh doanh. Phần lớn các nghiên cứu cho rằng chỉ số PCI và các thành phần của chỉ số PCI có ảnh hƣởng nhất định đến đầu tƣ tƣ nhân, hình thức kinh doanh, đến việc thu hút vốn đầu tƣ nói chung và vốn FDI nói riêng vào các địa phƣơng của Việt Nam.
Khác với các nghiên cứu trên, đề tài này nghiên cứu tác động của PCI và 10 chỉ số thành phần của PCI đến phát triển thƣơng hiệu địa phƣơng đối với nhà đầu tƣ. Luan van 11 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƢƠNG HIỆU VÀ PHÁT TRIỂN THƢƠNG HIỆU ĐỊA PHƢƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƢ 1. TỔNG QUAN VỀ THƢƠNG HIỆU 1. Khái niệm và Phân loại thƣơng hiệu a.