Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức, đổi mới công nghệ là yếu tố sống còn quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tỉnh Bến Tre là thủ phủ dừa của Việt Nam với diện tích canh tác năm 2012 đạt 58.441 ha, sản lượng dừa thu hoạch vượt 470 nghìn tấn và kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ấn tượng từ 67 triệu USD năm 2009 lên 155,5 triệu USD năm 2011. Tuy nhiên, hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp chế biến dừa địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng. Khảo sát thực tế cho thấy hơn 50% doanh nghiệp xác định tình trạng thiếu thông tin công nghệ và thông tin thị trường là nguyên nhân cốt lõi kìm hãm năng lực đổi mới, trong khi hệ thống thông tin khoa học và công nghệ địa phương mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% đến 40% nhu cầu thực tế.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng năng lực cung cấp thông tin khoa học và công nghệ tại địa phương, phân tích mức độ đáp ứng đối với hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển dịch vụ thông tin theo định hướng thị trường. Phạm vi không gian của đề tài tập trung vào các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ nhà nước cùng 50 doanh nghiệp chế biến dừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2001-2010. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tái cấu trúc mạng lưới thông tin địa phương, tối ưu hóa nguồn lực khuyến công trị giá 6.520 triệu đồng của tỉnh và thúc đẩy năng lực cạnh tranh cho chuỗi giá trị dừa xuất khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý công nghệ hiện đại và khung phân tích hệ thống đổi mới. Trọng tâm là mô hình đánh giá bốn thành phần công nghệ của Sharif (1986), bao gồm thành phần kỹ thuật vật thể (Technoware), thành phần con người (Humanware), thành phần thông tin dữ liệu (Infoware) và thành phần thiết chế tổ chức (Orgaware). Bên cạnh đó, luận văn kế thừa khung lý thuyết đổi mới công nghệ theo hướng dẫn Oslo Manual của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1997) với bốn phương thức đổi mới: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới marketing và đổi mới tổ chức.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa dựa trên cơ sở pháp lý và học thuật vững chắc:

  • Công nghệ được định nghĩa theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 như tập hợp các giải pháp, quy trình, kỹ năng và công cụ biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
  • Thông tin khoa học và công nghệ được xác định theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP là hệ thống dữ liệu, tri thức khoa học được tạo lập để phục vụ dịch vụ công và nhu cầu xã hội.
  • Nguồn lực tin lực cùng với nhân lực, tài lực và vật lực tạo thành bốn trụ cột đầu vào cốt lõi cấu thành năng lực đổi mới công nghệ của hơn 95% doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, báo cáo của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Sở Khoa học và Công nghệ cùng Sở Công Thương tỉnh Bến Tre giai đoạn 2001-2010.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát điều tra trực tiếp từ tháng 03/2010 đến tháng 06/2010 với cỡ mẫu N = 50 doanh nghiệp chế biến dừa trên địa bàn tỉnh.
  • Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện đại diện cho các nhóm ngành hàng chủ lực như cơm dừa nạo sấy, than gáo dừa, chỉ xơ dừa và thạch dừa.
  • Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và đánh giá thang điểm các thành phần công nghệ nhằm bóc tách chính xác những điểm nghẽn về năng lực hấp thụ thông tin của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ngành chế biến dừa Bến Tre phát triển mạnh mẽ về quy mô cơ sở và nguồn vốn nhưng hiệu quả công nghệ chưa đồng đều. Đến năm 2009, tỉnh có 82 doanh nghiệp đăng ký hoạt động chế biến dừa, tăng 74,5% so với năm 2005, nằm trong tổng số 1.085 cơ sở sản xuất toàn ngành. Vốn sản xuất kinh doanh toàn ngành tăng trưởng bình quân 50,29%/năm trong giai đoạn 2001-2005, đạt mức 279,33 tỷ đồng vào năm 2009. Lực lượng lao động thu hút 18.371 người vào năm 2008, chiếm 36,88% cơ cấu lao động công nghiệp toàn tỉnh.

Thứ hai, danh mục sản phẩm chế biến đã mở rộng lên 29 chủng loại đa dạng từ thân, trái, gáo đến xơ dừa, nhưng hiệu suất vận hành nhà máy còn thấp. Do thiếu thông tin dự báo nguyên liệu và công nghệ tự động hóa, chưa có doanh nghiệp nào đạt 85% công suất thiết kế. Điển hình ngành sản xuất chỉ xơ dừa đạt công suất cao nhất là 84,52%, trong khi ngành chế biến thạch dừa chỉ đạt mức khiêm tốn 24,45%, gây lãng phí chi phí cố định và tăng giá thành sản phẩm.

Thứ ba, tiềm lực của các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ địa phương còn rất hạn chế. Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Bến Tre chỉ có 10 cán bộ biên chế và vận hành với kinh phí 671 triệu đồng năm 2010. Trên quy mô cả nước, tổng số cán bộ thông tin tại 64 tỉnh thành chỉ có 421 người, trung bình 6,5 cán bộ mỗi đơn vị. Nguồn lực mỏng dẫn đến khả năng đáp ứng yêu cầu tra cứu thông tin chuyên sâu của doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 30% đến 40%.

Thứ tư, phương thức cung cấp sản phẩm dịch vụ thông tin còn mang tính hành chính, bao cấp và thiếu tính thương mại. Bản tin in định kỳ 12 số/năm chủ yếu phổ biến kiến thức đại trà một chiều. Cổng thông tin điện tử của Sở Khoa học và Công nghệ sau 2 tháng đăng tải ấn phẩm chỉ thu hút hơn 300 lượt truy cập rồi ngừng cập nhật. Hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ qua Techmart địa phương gần như chưa được triển khai độc lập, giai đoạn 2009-2010 tỉnh mới chỉ hỗ trợ được 7 lượt doanh nghiệp tham gia các hội chợ công nghệ tại Hà Nội và Đồng Nai.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh sự đứt gãy giữa bên cung cấp thông tin công và bên có nhu cầu công nghệ. Nguyên nhân sâu xa là các cơ quan thông tin địa phương vẫn vận hành theo cơ chế thụ động, cung cấp những gì sẵn có thay vì nghiên cứu những dữ liệu thị trường mà doanh nghiệp sẵn sàng chi trả. Cơ sở dữ liệu khoa học kỹ thuật tại địa phương chủ yếu là tài liệu giấy truyền thống, chậm được số hóa và thiếu vắng các báo cáo phân tích sáng chế chuyên ngành dừa.

Khi so sánh với hiệu quả của các kỳ Techmart toàn quốc giai đoạn 2006-2008 thu hút 18 sự kiện, giới thiệu 14.725 công nghệ và tạo ra 4.145 hợp đồng trị giá 2.586,05 tỷ đồng (trung bình 1 tỷ đồng ngân sách sự nghiệp khoa học kích hoạt 124 tỷ đồng giá trị giao dịch), có thể thấy Bến Tre đã bỏ lỡ nhiều cơ hội thương mại hóa công nghệ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ mạng nhện (radar chart) so sánh điểm số của 4 thành phần công nghệ, trong đó thành phần thông tin (Infoware) và tổ chức (Orgaware) luôn ghi nhận mức điểm thấp hơn đáng kể so với thành phần thiết bị (Technoware). Bảng phân tích chênh lệch công suất vận hành từ 24,45% đến 84,52% cũng là minh chứng rõ ràng cho thấy sự thiếu hụt thông tin quản trị chuỗi cung ứng công nghệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thông tin và thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp chế biến dừa, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  • Số hóa toàn diện hạ tầng dữ liệu và triển khai Trạm thông tin cộng đồng: Hoàn thiện dự án xây dựng 16 Trạm thông tin khoa học công nghệ cơ sở tại 16 xã nông thôn mới của tỉnh Bến Tre với tổng kinh phí 2.992,454 triệu đồng trong giai đoạn 2012-2014. Tích hợp và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia gồm hơn 55.000 tài liệu công nghệ nông thôn, 4.000 hồ sơ tổ chức chuyên gia tư vấn và 400 phim khoa học chuyên ngành. Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre phối hợp Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

  • Chuyển đổi mô hình dịch vụ thông tin sang cơ chế thị trường: Tái cấu trúc các sản phẩm thông tin công ích và phát triển nhóm dịch vụ thông tin thương mại có giá trị gia tăng cao. Phấn đấu nâng tỷ lệ đáp ứng yêu cầu thông tin công nghệ của doanh nghiệp lên mức 75% đến 80% trong giai đoạn 2014-2016. Đơn vị thực hiện: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Bến Tre cùng Hiệp hội Dừa Bến Tre.

  • Phát triển nguồn nhân lực và mở rộng mạng lưới chuyên gia tư vấn: Đào tạo chuyên sâu kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu số cho 32 cán bộ vận hành trạm thông tin cấp xã, đồng thời mở rộng mạng lưới cộng tác viên từ 36 người lên trên 50 chuyên gia kỹ thuật và thị trường giai đoạn 2014-2015. Cơ quan chịu trách nhiệm: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Bến Tre.

  • Thiết lập định kỳ sàn giao dịch công nghệ và Techmart chuyên ngành: Định kỳ tổ chức Techmart cấp tỉnh và xây dựng cổng giao dịch công nghệ trực tuyến thường xuyên, hướng tới mục tiêu tối thiểu 20 đến 30 doanh nghiệp chế biến dừa tiếp cận các gói chuyển giao máy móc hiện đại mỗi năm, hỗ trợ nâng công suất hoạt động của các nhà máy vượt ngưỡng 85% trong giai đoạn 2014-2020. Cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Công Thương và Sở Khoa học và Công nghệ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ và công thương: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tại các địa phương có thể sử dụng khung đánh giá và giải pháp của luận văn để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách khuyến công, tái cơ cấu trung tâm thông tin theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và xây dựng các chương trình hỗ trợ công nghệ sát với nhu cầu thực tế.

  • Ban lãnh đạo và chuyên viên kỹ thuật tại các doanh nghiệp chế biến nông sản: Giám đốc điều hành, trưởng bộ phận R&D của 82 doanh nghiệp ngành dừa và các doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu tìm thấy phương pháp tiếp cận các kênh thông tin tiêu chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ để giảm thiểu rủi ro đầu tư dây chuyền mới.

  • Viện nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Quản trị công nghệ: Các nhà nghiên cứu về kinh tế phát triển và quản lý khoa học công nghệ có thể kế thừa bộ số liệu thực chứng gồm 50 doanh nghiệp khảo sát cùng mô hình đánh giá 4 thành phần công nghệ để phát triển các đề tài chuyên sâu về liên kết vùng và chuỗi giá trị nông sản.

  • Tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ và trung tâm khuyến công: Các đơn vị môi giới công nghệ, sàn giao dịch Techmart khai thác luận văn làm cẩm nang thiết kế dịch vụ kết nối cung - cầu, xây dựng gói hỗ trợ kỹ thuật phù hợp với đặc thù của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Câu hỏi thường gặp

  • Năng lực thông tin khoa học và công nghệ tại Bến Tre đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở mức nào? Khảo sát thực tế giai đoạn 2010 ghi nhận hệ thống thông tin địa phương mới chỉ đáp ứng được từ 30% đến 40% nhu cầu tra cứu công nghệ của doanh nghiệp, do nguồn tài liệu chủ yếu là bản in truyền thống chưa được số hóa và thiếu các báo cáo phân tích chuyên sâu về thị trường ngành dừa.

  • Mô hình bốn thành phần công nghệ Sharif được vận dụng ra sao trong nghiên cứu này? Mô hình Sharif được sử dụng làm khung đánh giá toàn diện năng lực công nghệ của 50 doanh nghiệp chế biến dừa qua bốn yếu tố: kỹ thuật vật thể (Technoware), con người (Humanware), thông tin dữ liệu (Infoware) và tổ chức (Orgaware), chỉ rõ sự thiếu hụt thông tin là rào cản lớn nhất kìm hãm đổi mới.

  • Vì sao hiệu suất vận hành của các nhà máy chế biến dừa tại Bến Tre thường không đạt công suất thiết kế? Phần lớn doanh nghiệp đạt dưới 85% công suất thiết kế, cá biệt ngành chế biến thạch dừa chỉ đạt 24,45%, xuất phát từ việc thiếu thông tin dự báo nguồn cung nguyên liệu biến động, thiếu công nghệ bảo quản sau thu hoạch và quy trình vận hành chưa được tối ưu hóa đồng bộ.

  • Việc tổ chức Techmart mang lại hiệu quả chuyển giao công nghệ như thế nào? Số liệu thực tế toàn quốc giai đoạn 2006-2008 cho thấy 18 kỳ Techmart đã mang lại 4.145 hợp đồng trị giá 2.586,05 tỷ đồng. Cứ 1 tỷ đồng ngân sách nhà nước đầu tư cho tổ chức sự kiện đã kích hoạt tới 124 tỷ đồng giao dịch mua bán thiết bị và công nghệ trong xã hội.

  • Dự án Trạm thông tin khoa học công nghệ cộng đồng tại Bến Tre có quy mô ra sao? Dự án được triển khai giai đoạn 2012-2014 với tổng kinh phí 2.992,454 triệu đồng, hình thành 16 trạm thông tin tại 16 xã, đào tạo 32 cán bộ và tích hợp kho dữ liệu số hóa gồm trên 55.000 tài liệu khoa học kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông thôn.

Kết luận

  • Thông tin khoa học và công nghệ là nguồn lực đầu vào cốt lõi (tin lực) định hình thành công của mọi hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.
  • Thực trạng năng lực cung cấp thông tin tại Bến Tre còn hạn chế, chỉ đáp ứng 30% đến 40% nhu cầu của 82 doanh nghiệp chế biến dừa trên địa bàn.
  • Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ mô hình cung ứng thông tin hành chính bao cấp một chiều, thiếu tính liên kết với thị trường và hạ tầng dữ liệu số hóa còn chậm.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào phát triển 16 trạm thông tin cơ sở, thương mại hóa sản phẩm dịch vụ thông tin và định kỳ tổ chức Techmart chuyên ngành.
  • Lộ trình triển khai đồng bộ giai đoạn 2014-2020 là đòn bẩy quan trọng giúp doanh nghiệp nâng công suất nhà máy vượt 85% và gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm dừa xuất khẩu.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của thông tin khoa học công nghệ địa phương, đồng thời cung cấp bức tranh thực chứng sống động về thực trạng công nghệ của ngành dừa Bến Tre. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương hoàn thành việc số hóa 55.000 tài liệu công nghệ (2014-2015), mở rộng sàn giao dịch công nghệ trực tuyến (2016-2018) và chuyển đổi các trung tâm thông tin sang mô hình tự chủ hoàn toàn (2018-2020). Các nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng nắm bắt các giải pháp trong nghiên cứu này để chủ động tái cấu trúc hoạt động đổi mới công nghệ, nâng tầm thương hiệu dừa Việt Nam trên trường quốc tế.