phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chƣơng : Chƣơng I: Cơ sở lý luận về phát triển thị trƣờng nông sản Chƣơng II: Đặc điểm cơ bản của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu 3 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU 1. Khái niệm dự án đầu tư Dự án đầu tƣ là tổng thể các giải pháp về kinh tế – tài chính, xây dựng – kiến trúc, kỹ thuật – công nghệ, tổ chức – quản lý để sử dụng hợp lý cấc nguồn lực hiện có nhằm đạt đƣợc các kết quả, mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định trong tƣơng lai. Tuy nhiên vấn đề đầu tƣ còn có thể đƣợc xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: - Về mặt hình thức: Dự án đầu tƣ là một tập hồ sơ tài liệu đƣợc trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động, chi phí một cách kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện các mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. - Trên góc độ quản lý: Dự án đầu tƣ là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính trong một thơi gian dài.
- Trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tƣ là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đàu tƣ sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, làm tiển đề cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ. Trong quản lý vĩ mô, dự án đàu tƣ là hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế. - Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tƣ là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau đƣợc kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua các nguồn lực xác định. Tuy có thể đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tƣ, nhƣng bao giờ cũng có bốn thành phần chính sau: + Các nguồn lực: Vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu.
4 + Hệ thống các giải pháp đồng bộ, để thực hiện các mục tiêu, tạo ra các kết quả cụ thể. + Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lƣợng đƣợc tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. + Mục tiêu kinh tế xã hội của dự án: Mục tiêu nay thƣờng đƣợc xem xét dƣới hai giác độ. Đối với doanh nghiệp đó là mục đích thu hồi vốn, tạo lợi nhuận và vị thế phát triển mới của doanh nghiệp.
Đối với xã hội đó là việc phù hợp với quy hoạch định hƣớng phát triển, kinh tế, tạo thêm việc là và sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng sinh thái. * Để làm rõ thêm ta có thể đƣa ra một số nhận xét nhƣ sau về dự án đầu tƣ: Thứ nhất, dự án không chỉ là ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của một cá nhân, tập thể hay một quốc gia. Thứ hai, dự án không nhằm chứng minh cho một sự tồn tại có sẵn mà nhằm tạo ra một thực thể mới trƣớc đó chƣa tồn tại nguyên bản. Thứ ba, bên cạnh các yêu cầu về việc thiết lập các yếu tố vật chất kỹ thuật, một dự án bao giờ cũng đòi hỏi sự tác động tích cực của con ngƣời, có nhƣ vậy với mong đạt đƣợc mục tiêu đã định.
Thứ tư, vì liên quan đến một tƣơng lai không biết trƣớc nên bản thân một dự án bao giờ cũng chứa đựng những sự bất định và rủi ro có thể xảy ra. Thứ năm, dự án có bắt đầu, có kết thúc và chịu những giới hạn về nguồn lực. hái niệm ngh o - Là sự di n tả về sự thiếu thốn về vật chất, thiếu thốn về các cơ hội để có đƣợc sống trong cuộc sống mà tƣơng đƣơng với tiêu chuẩn tối thiểu một cách nhất định. khái niệm dự án - dự án là tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian xá định với sự rằng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn 5 1.
Khái quát chung về hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm Xuất khẩu là việc bán hàng hóa (hoặc dịch vụ) cho nƣớc ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phƣơng tiện thanh toán theo nguyên tắc ngang giá. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với ít nhất một bên trong mối quan hệ này. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác đƣợc lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Việc trao đổi hàng hóa mang lại lợi ích cho các quốc gia do đó các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thƣơng, đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động này di n ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện từ sản xuất hàng tiêu dùng cho đến máy móc thiết bị, tƣ liệu sản xuất và cả công nghệ kỹ thuật cao. Dù ở lĩnh vực nào thì hoạt động xuất khẩu cũng đều nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động xuất khẩu di n ra trên phạm vi rất rộng, cả về không gian lẫn thời gian. Nó có thể chỉ di n ra trong thời gian ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm. Nó có thể đƣợc tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Đặc điểm - Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ƣu các khoa học quản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với các yếu tố khác của từng quốc gia nhƣ yếu tố luật pháp, kinh tế văn hoá.
Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng nƣớc, khai thác các nguồn lực cho phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập, quốc tế hoá. Lợi thế so sánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý, về lao động, về tài nguyên và sở hữu phát minh sáng chế. - Trong điều kiện hiện nay, xuất khẩu hàng hoá ở nƣớc ta đang là một trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu đƣợc chú trọng. Bởi nó đem lại lợi ích 6 vô cùng to lớn cho sự phát triển nƣớc nhà, tạo cho nhiều quốc gia có cơ hội thuận lợi trong việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội.
- Hoạt động xuất khẩu hàng hoá di n ra giữa hai hay nhiều quốc gia khác nhau, ở trong các môi trƣờng và bối cảnh khác nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có một trình độ hiểu biết và kinh nghiệm để giao lƣu và học hỏi khi xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Vì vậy, chúng ta không thể lấy kinh nghiệm trao đổi hàng hoá thông thƣờng trong một quốc gia để áp đặt hoàn toàn cho hoạt động trao đổi hàng hoá với nƣớc ngoài. - Hoạt động xuất khẩu có thể đƣợc tiến hành bởi tƣ nhân hoặc nhà nƣớc.
Đối với doanh nghiệp nhà nƣớc thì chính phủ có nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ chính trị, ngoại giao, văn hoá. Do đó, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nƣớc, chính phủ có thể hiện hoặc không hoàn toàn hƣớng về lợi nhuận. Còn đối với doanh nghiệp tƣ nhân thì mục đích của họ là tối đa hoá lợi nhuận, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nƣớc. Quy trình xuất khẩu Để quy trình xuất khẩu đƣợc tiến hành thuận lợi thì làm tốt công việc ở các bƣớc là rất cần thiết.
Thông thƣờng một quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm một số bƣớc sau: * Nghiên cứu thị trƣờng tìm kiếm đối tác * Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới Nhƣ chúng ta đã biết thị trƣờng là nơi gặp gỡ của cung và cầu. Mọi hoạt động của nó đều di n ra theo đúng quy luật nhƣ quy luật cung, cầu, giá cả, giá trị…. Thật vậy thị trƣờng là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lƣu thông, ở đâu có sản xuất thì ở đó có thị trƣờng. Để nắm rõ các yếu tố của thị trƣờng, hiểu biết các quy luật vận động của thị trƣờng nhằm mục đích thích ứng kịp thời và làm chủ nó thì phải nghiên cứu thị trƣờng.
Nghiên cứu thị trƣờng hàng hoá thế giới có ý nghĩa quan trọng sống còn trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế, đặc biệt là công tác xuất, 7 nhập khẩu của mỗi quốc gia nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Nghiên cứu và nắm vững đặc điểm biến động của thị trƣờng và giá cả hàng hoá thế giới là nền móng vững chắc đảm bảo cho các tổ chức kinh doanh xuất khẩu hoạt động trên thị trƣờng thế giơí có hiệu qủa nhất. Để công tác nghiên cứu thị trƣờng có hiệu quả chúng ta cầm phải xem xét toàn bộ quá trình tái sản xuất của một ngành sản xuất hàng hoá, tức là việc nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực lƣu thông mà còn ở lĩnh vực phân phối, tiêu dùng. Các doanh nghiệp khi nghiên cứu thị trƣờng cần phải nắm vững đƣợc thị trƣờng và khách hàng để trả lời tốt các câu hỏi của hai vấn đề là thị trƣờng và khách hàng doanh nghiệp cần phải nắm bắt đƣợc các vấn đề sau: Thị trường đang cần mặt hàng gì? Theo nhƣ quan điểm của Marketing đƣơng thời thì các nhà kinh doanh phải bán cái mà thị trƣờng cần chứ không phải cái mình có.
Vì vậy cần phải nghiên cứu về khách hàng trên thị trƣờng thế giới, nhận biết mặt hàng kinh doanh của công ty. Trƣớc tiên phải dựa vào nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nhƣ quy cách, chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng nhƣ tập quán của ngƣời tiêu dùng từng địa phƣơng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó xem xét các khía cạnh của hàng hoá trên thị trƣờng thể giới. Về mặt thƣơng phẩm phải hiểu rõ giá trị hàng hoá, công dụng, các đặc tính lý hoá, quy cách phẩm chất, mẫu mã bao gói.
Để hiểu rõ vấn đề này yêu cầu các nhà kinh doanh phải nhạy bén, có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm để dự đoán các xu hƣớng biến động trong nhu cầu của khách hàng.