MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán (TTCK) đóng vai trò quan trọng trong việc tap trung các nguồn vốn và luân chuyên vốn từ tiết kiệm của các hộ gia đình đến nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2021, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt 93.8% so với tong sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product), va tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán dat 1,12 triệu tỷ đồng, chiếm tới 38,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Bộ Tài chính, 2022). Các con số này thể hiện rõ ràng cho sự mở rộng vai trò huy động vốn của TTCK tại Việt Nam.
Vai trò này cũng góp phần thúc đầy tích lũy vốn tư bản trong nền kinh tế, từ đó, nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, và đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Ngoài ra, TTCK còn có tác động tích cực đến môi trường đầu tư của một nền kinh tế, thông qua khả năng kết nối các nhà đầu tư với nhau, đồng thời, tham gia tạo lập một nền tang tài chính lành mạnh dé phát triển kinh tế. Cũng với bản chất của các giao dịch mang tính nhanh nhạy, bám sát với các thay đổi liên tục của thị trường, TTCK còn được gọi là phong vũ biéu của nền kinh tế, phản ánh những biến động về kinh tế vĩ mô, và nhất là các kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế. Ngoài ra, TTCK còn đóng một vai trò quan trọng như một kênh chính sách giúp Chính phủ ôn định kinh tế vi mô, điều tiết nền kinh tế trong suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, TTCK là một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính nội địa, củng cố sức chống chịu của một nền kinh tế trước các bién động bất thường của nền kinh tế thế giới. Đặc biệt, TTCK còn là kênh lưu chuyền của các dòng vốn dau tư gián tiếp nước ngoài, mà qua đó, các nhà đâu tư nước ngoài tham gia góp vôn vào các doanh nghiệp trong nước. Cụ thể, số lượng nhà đầu tư nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam cũng gia tăng nhanh chóng qua các năm, với tổng giá trị danh mục đến cuối năm 2021 đạt gần 55 tỷ USD (Bộ Tài chính, 2022). Từ đó, TTCK trở thành một trong những yếu tô cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại, mở ra một cửa số liên thông cốt yếu với thị trường vốn tư bản toàn cầu.
Với các lý do vừa nêu trên, phát trién TTCK vừa góp phan củng cố các nền tảng của nền kinh tế trong ngắn hạn, nhất là vào tăng trưởng kinh tế, và vừa góp phần vào thực hiện thành công các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội trong trung và dài hạn. Các vai trò này càng trở nên quan trọng khi mà hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang bắt đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2030. Thị trường chứng khoán tại Việt Nam ra đời khá muộn nhưng sau 21 năm vận hành thị trường, từ chỗ khởi đầu chỉ có thị trường cô phiếu với quy mô nhỏ, TTCK Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện về cấu trúc với 3 mảng thị trường cô phiếu, trái phiếu và phái sinh. Trong đó, cả ba thị trường đều từng bước trưởng thành, với một số giai đoạn phát triển mạnh mẽ, cùng đóng góp trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế, góp phần vào thực hiện thành công tiễn trình hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam.
Đặt trong bối cảnh chuyên mình của cả nền kinh tế, quá trình hình thành và phát triển TTCK thé hiện rằng thời điểm hiện tại mang tính quan trọng dé đánh giá lại sự phát triển của thị trường chứng khoán trong 21 năm qua. Các kết quả phân tích giúp dé ra những giải pháp phù hợp dé thúc day thi trường chứng khoán Việt Nam phát triển trong thời gian tới, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu với việc các Hiệp định thương mại tự do thé hệ mới được thực thi. Theo cách xem xét đó, chủ đề về “Phat triển thị trường chứng khoán ` A Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” đã được Học viên lựa chọn làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế quốc tế. Câu hỏi nghiên cứu Trên cơ sở xác định tính cấp thiết của đề tài, Học viên đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau: (1) Tại sao phải phát triển TTCK Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu? (2) Thực trạng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua? Những thành tựu đạt được và những hạn chế, tồn tại của TTCK Việt Nam? (3) Việt Nam cần có những giải pháp nào để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bồi cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng? 3.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở luận giải lý thuyết và phân tích thực trạng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua, đề tài đề xuất một số giải pháp dé phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thé giới. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở xác định mục tiêu nghiên cứu như trên, Luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây: - Tổng quan vấn đề lý luận thị trường chứng khoán, sự phát triển của thị trường chứng khoán. - Tìm hiểu một số kinh nghiệm quốc tế trong phát triển thị trường chứng khoán và tìm ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Phân tích thực trạng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán; thực trạng phát triển thị trường chứng khoán hiện nay về cấu trúc thị trường, sản phâm và nhà đầu tư.
Trên cơ sở đó, Đề tài đánh giá những thành tựu đạt được những tồn tại của TTCK trong quá trình phát triển thời gian qua. - Phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam và trên cơ sở các kết quả đánh giá về thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn đề ra những định hướng phát triển và các giải pháp phát triển TTCK Việt Nam trong thời gian sắp tới. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng vào kinh tế thé giới.
Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Đề tài phân tích trường hợp phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam và kinh nghiệm phát triển thị trường của Trung Quốc và Đông Nam Á. - Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sự phát triển thị trường chứng khoán từ lúc đi vào hoạt động đến nay tức từ 2000 — 2021. Ngày 28/8/2000, thi trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào giao dịch với 2 mã cổ phiếu đầu tiên là REE và SAM. Đến năm 2021, thị trường chứng khoán đã vận hành được 21 năm.
Pham vi thời gian này bao quát các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, với sự xuyên suốt từ những ngày vận hành đầu tiên (năm 2000) cho tới thời gian gần nhất tác giả thu thập được số liệu (2021). - Về nội dung: Đề tài nghiên cứu sự phát triển của TTCK Việt Nam trên cơ sở đánh giá sự phát triển tổng thê của thị trường, trong đó đánh giá sự phát triển của thị trường cổ phiếu và trái phiếu, là các thị trường cốt lõi của thị trường chứng khoán Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng đa dạng một số các phương pháp nghiên cứu liên quan dé tiến hành nghiên cứu, đánh giá quá trình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua, gồm có: - Phương pháp phân tích, tổng hợp - Phương pháp thông kê - Phương pháp so sánh -Phương pháp kế thừa Chi tiết nội dung phương pháp nghiên cứu được trình bày tại Chương 2. Phương pháp nghiên cứu của Đề tài.
Bố cục luận văn Nội dung của Luận văn được chia thành bốn chương chính như sau. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường chứng khoán trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trang phát trién thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 4.
Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế CHUONG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LY LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHAT TRIEN THỊ TRUONG CHUNG KHOAN TRONG BOI CANH HOI NHAP KINH TE QUOC TE 1. Téng quan tình hình nghiên cứu Chủ đề về phát triển thị trường chứng khoán đã nhận được nhiều sự quan tâm cả trong nước và quốc tế, như một nhánh nghiên cứu năng động và vẫn tiếp tục được đào sâu trong suốt thời gian vừa qua. Các nghiên cứu lý luận về phát triển thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán phát triển giúp tạo điều kiện cho việc huy động vốn cho các dự án đầu tư, và vì vậy, nâng cao giá trị đầu tư trong nền kinh tế (King and Levine, 1993).
Khác với kênh huy động vốn qua các tô chức tài chính ngân hàng, thị trường chứng khoán kết nối công ty phát hành với các nhà đầu tư đăng ký giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán. Kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán phát sinh các rủi ro. Trong đó, rủi ro đầu tư được chia sẻ giữa công ty phát hành và nhiều nhà đầu tư trên thị trường, và rủi ro sẽ được phân bổ theo khâu vị rủi ro và khả năng của các nhà đầu tư. Quá trình chia sẻ rủi ro sẽ đạt đến điểm cân băng khi mà các cá nhân có nguồn thu nhập khác nhau có thé thụ hưởng một tỷ lệ tiêu dùng so với thu nhập bằng nhau, với các điều kiện tương đồng về hàm thỏa dụng (Obsfeld, 1994).