Chương 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong phần tổng quan nghiên cứu của luận án, các tư liệu tham khảo chính thuộc phạm vi chuyên ngành Xã hội học. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án hàm chứa tính liên ngành, nên tác giả cũng đã sử dụng các tài liệu chuyên ngành Kinh tế học, Nhân học văn hóa, và Tâm lý học để kết nối, bổ sung. Các quan điểm và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được trình bày trong phần này tập trung vào hai nhóm vấn đề liên quan chính đến đề tài nghiên cứu như sau: 1. Những quan điểm về phát triển nông thôn và sinh kế người nông dân Quan điểm phát triển nông thôn là một phạm trù có nội hàm rất rộng, với nhiều ý tưởng khác nhau, được vận dụng ở các nước đang phát triển và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của các quốc gia này.
Đặc biệt với các quốc gia đang phát triển vốn có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, đóng góp của nông thôn cho sự phát triển chung của quốc gia là vô cùng quan trọng. Một số quan điểm trên thế giới Vào những thập niên 1950 -1960, một số lý thuyết kinh tế phát triển được hình thành và nhận thức còn đơn giản khi coi ngành công nghiệp là động lực tăng trưởng còn nông nghiệp là ngành lạc hậu. Đại diện cho trường phái này là mô hình kinh tế nhị nguyên của Authur Lewis, nhằm giải thích sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp ở một nước vừa CNH. Ông cho rằng, nông thôn là nguồn cung cấp lao động thặng dư chủ yếu.
Tiền công cao hơn trong ngành công nghiệp hiện đại thu hút lao động thặng dư, và mở rộng cho đến khi tất cả lao động đều được tiếp nhận. Đối với 11 khu vực nông thôn, sự suy giảm của lao động thặng dư dẫn đến thương mại hóa nông nghiệp và theo ông quá trình đó sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Bởi vì, trong khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn, đất đai ít, lao động lại nhiều nên lao động dôi dư và số lao động dôi dư này có năng suất giới hạn bằng không, nghĩa là không có thu nhập. Như vậy, việc chuyển giao lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp sẽ có tác dụng vừa chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp và chỉ để lại số lượng vừa đủ để tạo ra sản lượng cố định, từ đó sẽ tạo được việc làm cho số lao động dôi dư trong khu vực nông nghiệp.
Mặt khác, sự chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, nâng cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế [41, tr: 304]. Lập luận trên cho thấy, trường phái lý thuyết phát triển này không ý thức được vai trò của khu vực nông thôn trong quá trình phát triển. Việc ưu tiên cho công nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao hơn đã dẫn tới sự di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, và như vậy khu vực nông thôn lại là nơi sản xuất lương thực cho cư dân nông thôn, cư dân đô thị và cung cấp lao động cho ngành công nghiệp. Bản chất của trường phái lý thuyết này không thừa nhận vai trò đổi mới của khu vực nông thôn và không xem xét đến khả năng thay đổi trong trình tự phát triển.
Trên thực tế, không có việc gì được coi là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển. Khu vực nông thôn có thể đóng vai trò đổi mới ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào. Khác với Authur Lewis, nhà kinh tế học người Nhật Bản Harry Toshima đưa ra trường phái lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa. Theo ông, mô hình kinh tế nhị nguyên của Authur Lewis không phù hợp với các nước Châu Á bởi lẽ nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong đỉnh cao thời vụ và chỉ thừa lao động trong lúc nhàn rỗi.
Vì vậy, ông cho rằng lao động trong nông nghiệp cần phải giữ lại và chỉ tạo ra thêm nhiều việc làm 12 trong những tháng nhàn rỗi bằng cách tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi thích hợp,… Bên cạnh đó, có thể mở ra nhiều ngành mới, sử dụng nhiều lao động để tạo việc làm, tăng thu nhập. Phải thực hiện CNH nông nghiệp bằng cách xây dựng kết cấu hạ tầng vật chất, hạ tầng xã hội cho nông thôn, phân công và chuyên môn hóa lao động, từng bước chuyển giao lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ, chuyển lao lao động chân tay, cơ bắp năng suất thấp sang lao động với máy móc năng suất cao. Có như vậy, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của nông dân ở nông thôn mới từng bước được cải thiện, văn minh hóa. Nền kinh tế có sự tăng trưởng và phát triển, lại tránh được sức ép về nhiều mặt đối với đô thị [41, tr.
Có thể nói rằng, lý thuyết tăng trưởng và phát triển đã có tác dụng nhất định trong phân tích, đánh giá đặc điểm, điều kiện và nguồn lực để phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Vào những thập niên 1970, các chương trình phát triển nông thôn đã trở thành một trong những con đường giải quyết bài toán phát triển nông nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn. Hầu hết các chương trình phát triển nông thôn trong các thập niên trước ở các quốc gia thường không quan tâm đến cải thiện phúc lợi cho người nghèo. Đồng thời, quá trình tăng trưởng nhanh chóng đã không đảm bảo bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội.
Nhận thức được điều đó, cộng đồng quốc tế đã tăng cường các hoạt động hướng đến mục tiêu phúc lợi và nhu cầu cơ bản của đời sống nông thôn. Vào năm 1975, Ngân hàng thế giới đã đưa ra một chiến lược phát triển nông thôn nhằm mục đích cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong số những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển [9, tr. Đồng tình với lập luận về chiến lược phát triển nông thôn, một số học giả cho rằng, phát triển nông thôn là hoạt động nhằm nâng cao vai trò thể chế chính trị và xã hội cho người dân nông thôn thông qua sử dụng có hiệu quả 13 các nguồn lực của địa phương vào quá trình phát triển.
Trong đó, lập luận của G.Rains cho rằng, phát triển kinh tế nông thôn trong nước có ảnh hưởng lớn đến CNH hơn là thị trường xuất khẩu. Các nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thay đổi kỹ thuật, thay đổi nhu cầu trong nước và khu vực phi nông nghiệp nhỏ ở nông thôn. Nhân tố kỹ thuật đã nâng cao sức mua của khu vực nông thôn, các xí nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thúc đẩy sự phát triển thị trường cùng với sự tăng trưởng của nông nghiệp đi đôi với việc tăng số lượng việc làm ở khu vực này [71, tr. Quan điểm của học giả LaKshmanan (1982) cũng cho rằng, phát triển nông thôn phải là quá trình cải thiện mức sống của đa số người nghèo ở nông thôn và phải làm cho họ có khả năng tự phát triển và cần có một khuôn khổ chính sách phù hợp ở các cấp độ quốc gia và vùng để huy động, phân bổ các nguồn lực như nhân lực, vật lực và tài lực cho quá trình phát triển [144].
Với lập luận như vậy, có thể hiểu rằng về phương thức thực hiện tiến trình phát triển nông thôn phải lấy cộng đồng dân cư nông thôn làm trung tâm trong tiến trình phát triển cùng với việc phát huy tối đa vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển nông thôn có nền tảng kinh tế vững chắc. Một điều thực sự thiếu sót nếu muốn phát triển nông thôn đạt kết quả mà không bảo đảm cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Đây là vấn đề đặt ra được các quốc gia quan tâm, bởi lẽ nông nghiệp bền vững sẽ là một yếu tố tạo nên nền kinh tế phát triển bền vững. Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, những vấn đề được đặt ra chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp với mục đích bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người ngày càng tăng mà không hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường.
Sau khi tổng kết nhiều mô hình để phát triển nông thôn toàn diện hơn, vào năm 1992, Tổ chức lương thực Liên hiệp quốc (FAO) đưa ra quan điểm 14 về phát triển nông thôn bền vững là sự quản lý và bảo tồn, sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ, vừa đáp ứng cả cho hiện tại và mai sau mà không làm tổn hại đến môi trường, tài nguyên [133]. Theo FAO, nông nghiệp bền vững phải đạt 3 mục đích quan trọng, bao gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy và bảo tồn môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Điều này thể hiện sự tập trung cho những vấn đề bền vững trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Từ thập niên 2000 đến nay, phát triển nông thôn bền vững luôn gắn với mục tiêu giảm nghèo ở các quốc gia dựa trên tiếp cận sinh kế bền vững [125].
Trong đó, nổi bật là ấn phẩm “Sustainable livelihoods guidance sheets” do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development– DFID, 1999) đề xuất. Công trình này nhấn mạnh tầm quan trọng của các tài sản sinh kế như các nguồn vốn xã hội, vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên, vốn tài chính và được coi như là một công cụ để nâng cao sự hiểu biết về sinh kế bền vững, đặc biệt là sinh kế của người nghèo. Cách tiếp cận sinh kế bền vững sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau của luận án.