Tổng quan nghiên cứu

Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự nhiên đạt 91.115 ha, chiếm khoảng 18,75% diện tích toàn tỉnh, trong đó đất sản xuất nông nghiệp đạt 5.394,93 ha (chiếm tỷ lệ 5,92%) và đất lâm nghiệp chiếm tới 66.110,45 ha (chiếm 72,56%). Hồng không hạt Bắc Kạn (Diospyros kaki L.) là loài cây ăn quả á nhiệt đới đặc sản bản địa quý hiếm, đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00021 theo Quyết định số 1721/QĐ-SHTT ngày 08/9/2010 và được bình chọn trong top 100 nhãn hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam vào năm 2013. Dù sở hữu tiềm năng thương mại vượt trội với hàm lượng đường tự nhiên từ 12% đến 16%, việc phát triển cây hồng không hạt tại Chợ Đồn vẫn đối mặt với nhiều hạn chế lớn: quy mô canh tác nhỏ lẻ, phân tán, có tới 98% số hộ trồng chưa tuân thủ đầy đủ quy trình kỹ thuật, và chuỗi tiêu thụ hoàn toàn tự phát.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Phan Thị Tuyên tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết về phát triển sản xuất gắn liền với chuỗi giá trị tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn giai đoạn 2014-2016, định hướng đến năm 2020. Đề tài hướng tới việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng năng suất, chi phí sản xuất và hiệu quả thương mại tại 2 xã trọng điểm là Quảng Bạch và Đồng Lạc. Đồng thời, nghiên cứu xác lập hệ thống giải pháp nâng cao giá trị gia tăng, ổn định giá bán từ mức thu mua tại vườn 15.000 đồng/kg, thúc đẩy mở rộng vùng chuyên canh đạt mục tiêu quy hoạch 1.200 ha toàn tỉnh theo Quyết định số 3483/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện của Lê Đình Thắng (1993), phân định rõ hai phương thức phát triển theo chiều rộng (mở rộng quỹ đất, bổ sung vốn đầu tư và lực lượng lao động) và phát triển theo chiều sâu (ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tối ưu hóa cơ cấu chi phí, nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích). Nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng và hành vi tiêu dùng nông sản của Đỗ Kim Chung (2009), đặt trong bối cảnh tác động của các quy luật kinh tế thị trường cơ bản như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh và quy luật cung - cầu mang tính mùa vụ cao. Các khái niệm cốt lõi được xây dựng gồm: giá trị sản xuất (Gross Output - GO), chi phí kiến thiết cơ bản, chi phí thời kỳ kinh doanh, chuỗi giá trị nông sản và quản trị thương hiệu chỉ dẫn địa lý. Phát triển tiêu thụ hồng không hạt được tiếp cận như một chuỗi hoạt động liên hoàn từ nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng, quy chuẩn hóa chất lượng, xúc tiến bán buôn, bán lẻ đến điều tiết dòng thông tin và dòng tiền tệ trong phân phối.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp đa chiều. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn, Phòng Tài nguyên và Môi trường từ năm 2007 đến năm 2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra trực tiếp bằng phiếu hỏi tại 2 xã có diện tích hồng tập trung lớn nhất huyện là xã Quảng Bạch và xã Đồng Lạc. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đối với các hộ nông dân phân chia theo quy mô diện tích canh tác và nhóm tuổi của vườn cây, đồng thời khảo sát toàn diện 4 tác nhân chính trong chuỗi cung ứng gồm: hộ trồng hồng, người thu gom, thương lái bán buôn và tiểu thương bán lẻ tại thị trường nội tỉnh cùng các thành phố lớn như Hà Nội, Thái Nguyên.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích kinh tế so sánh (đối chiếu hiệu quả tài chính giữa cây hồng không hạt với cây quýt), tính toán cơ cấu chi phí sản xuất trung bình trên 1 ha và xác định tỷ suất lợi nhuận qua từng khâu phân phối. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm bóc tách chính xác các yếu tố thâm dụng vốn, tỷ suất doanh thu trên chi phí và xác định điểm nghẽn giá trị gia tăng, làm tiền đề thiết lập ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) có độ tin cậy khoa học cao trong giai đoạn 2014-2016 và định hướng đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện tích và sản lượng hồng không hạt toàn tỉnh Bắc Kạn có sự gia tăng nhanh chóng nhưng năng suất chưa thực sự bền vững. Từ năm 2009 đến năm 2016, tổng diện tích cây hồng tăng từ 208 ha lên 827 ha (tăng 297,6%), diện tích cho sản phẩm tăng từ 98 ha lên 550 ha, kéo theo sản lượng thu hoạch tăng từ 196 tấn lên 1.925 tấn (tăng gấp 9,8 lần). Tuy nhiên, năng suất bình quân biến động thất thường giữa các năm do chịu ảnh hưởng nặng nề của thời tiết, dao động từ mức thấp 14 tạ/ha năm 2015 lên mức 35 tạ/ha năm 2016.

Thứ hai, trình độ kỹ thuật canh tác của các hộ nông dân tại huyện Chợ Đồn còn nhiều hạn chế nghiêm trọng. Báo cáo thực địa chỉ ra rằng có tới 98% số hộ không áp dụng đầy đủ quy trình kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả, trong đó 67% số hộ hoàn toàn không tác động bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào mà chỉ thu hái tự nhiên khi đến vụ. Hơn 70% diện tích hồng phân tán tại vườn đồi do các hộ tự đầu tư, với hơn 95% chủ hộ là đồng bào dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo tập huấn. Tỷ lệ hộ thực hiện bón phân lót trước khi trồng chỉ đạt 50%, và chỉ có 20% đến 30% số hộ duy trì bón thúc hàng năm với lượng phân bón thấp, chỉ khoảng 2 đến 2,5 tấn phân bón trên một hecta.

Thứ ba, cấu trúc kênh phân phối mang tính tự phát và phân phối lợi ích không đồng đều giữa các tác nhân. Khoảng 90% đến 95% sản lượng hồng không hạt được tiêu thụ tại thị trường nội địa dưới dạng ăn tươi. Chuỗi tiêu thụ vận hành chủ yếu qua kênh thương lái tự do: người thu gom mua tại vườn với giá trung bình 15.000 đồng/kg trong chính vụ (đầu vụ hoặc cuối vụ đạt khoảng 30.000 đồng/kg), sau đó bán lại cho các đại lý bán buôn và người bán lẻ tại chợ truyền thống hoặc cửa hàng với giá bán lẻ dao động từ 25.000 đồng đến 35.000 đồng/kg.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến năng suất bấp bênh bắt nguồn từ tập quán canh tác quảng canh, sự thiếu hụt nguồn giống ghép đạt chuẩn 10TCN-2001 và công tác phòng trừ sâu đục quả, bệnh giác ban chưa được thực hiện triệt để. Dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ kết hợp cột - đường thể hiện biến động diện tích, năng suất, sản lượng giai đoạn 2009-2016, đi kèm bảng ma trận chi phí - lợi nhuận bóc tách từng tác nhân trong chuỗi cung ứng.

So sánh với các nghiên cứu phát triển cây ăn quả tại Nhật Bản, nơi các hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò hạt nhân kiểm soát 100% quy chuẩn kỹ thuật và điều tiết giá bán, người trồng hồng tại Chợ Đồn đang chịu nhiều rủi ro thị trường hơn. Dù người sản xuất nhận được phần lớn giá trị tuyệt đối tại thời điểm thu hoạch, nhưng do thiếu liên kết hợp tác xã và thiếu công nghệ bảo quản lạnh (dưới 10 độ C) hoặc chế biến sâu (như sấy khô, làm mứt), nông dân hoàn toàn bị động trước áp lực ép giá của tư thương vào thời điểm chính vụ rộ quả vào tháng 7 và tháng 8 âm lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, quy hoạch vùng sản xuất tập trung và khai thác hiệu quả quỹ đất. Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn cần phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành rà soát 13.430,14 ha đất chưa sử dụng để quy hoạch dồn điền, mở rộng diện tích chuyên canh cây hồng không hạt tập trung tại các xã Quảng Bạch, Đồng Lạc và vùng phụ cận, phấn đấu đóng góp hiện thực hóa mục tiêu 1.200 ha của tỉnh Bắc Kạn vào năm 2020.

Hai là, chuẩn hóa nguồn giống ghép và chuyển giao quy trình kỹ thuật thâm canh. Trạm Khuyến nông huyện phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên triển khai tuyển chọn các cây đầu dòng đạt chuẩn 10TCN-2001 để nhân giống vô tính. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ áp dụng quy trình đốn tỉa tạo tán, bón phân vô cơ và phân chuồng hoại mục (20-50 kg/hố khi trồng mới và 3 đợt bón thúc mỗi năm) từ mức dưới 30% hiện nay lên trên 80% trong giai đoạn 2018-2020.

Ba là, đổi mới tổ chức sản xuất và thành lập hợp tác xã chuyên ngành. Ủy ban nhân dân các xã cần vận động thành lập các Hợp tác xã và tổ hợp tác sản xuất hồng không hạt theo tiêu chuẩn VietGAP, đứng ra làm đầu mối ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các chuỗi siêu thị và đại lý tại Hà Nội, Nam Định, Thái Nguyên, giảm tỷ lệ tiêu thụ qua tư thương tự do từ trên 90% xuống dưới 50%.

Bốn là, đẩy mạnh thương mại hóa chỉ dẫn địa lý và hoàn thiện hạ tầng bảo quản sau thu hoạch. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn cùng Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện cần quản lý nghiêm ngặt việc sử dụng tem nhãn chỉ dẫn địa lý số 00021, hỗ trợ công nghệ ngâm khử chát an toàn bằng nước sạch và đầu tư hệ thống kho bảo quản mát (dưới 18 độ C) tại vùng nguyên liệu nhằm kéo dài thời gian thương phẩm thêm 15 đến 30 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách nông nghiệp tại các huyện miền núi: Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ban hành chính sách hỗ trợ phát triển cây bản địa có chỉ dẫn địa lý.

Thứ hai, ban giám đốc các hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và phân phối nông sản: Cung cấp bức tranh chi tiết về chuỗi cung ứng, cơ cấu chi phí và biên lợi nhuận của thương lái, hỗ trợ thiết lập mạng lưới thu mua trực tiếp và tối ưu hóa logistics từ vùng trồng đến các đô thị lớn.

Thứ ba, các hộ nông dân và chủ trang trại trồng cây ăn quả vùng trung du miền núi: Cung cấp tài liệu hướng dẫn kỹ thuật từ khâu chuẩn bị đất (kích thước hố 60x60x60 cm hoặc 80x80x80 cm), kỹ thuật bón lót, đốn cành đến quy trình ngâm khử chát 3 ngày 3 đêm đúng tiêu chuẩn thương phẩm.

Thứ tư, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung phân tích thực chứng chuẩn mực về phát triển sản xuất gắn với chuỗi tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Cây hồng không hạt Bắc Kạn có những đặc tính sinh học và giá trị thương phẩm nổi bật nào?

Hồng không hạt Bắc Kạn (Diospyros kaki L.) là giống cây ăn quả bản địa có quả không hạt do nhân bị thoái hóa dạng thạch. Quả chứa hàm lượng đường tự nhiên từ 12% đến 16%, khi ngâm khử chát đúng kỹ thuật sẽ cho vị ngọt đậm, giòn và nhiều cát đường. Sản phẩm đã được cấp Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý số 00021 từ năm 2010.

Tại sao năng suất hồng không hạt tại Chợ Đồn giai đoạn 2009-2016 có sự biến động lớn giữa các năm?

Năng suất hồng biến động mạnh từ 14 tạ/ha năm 2015 lên 35 tạ/ha năm 2016 do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết mùa ra hoa đậu quả. Bên cạnh đó, có tới 67% số hộ không thực hiện chăm sóc kỹ thuật, 98% hộ canh tác chưa đúng quy trình và thiếu bón thúc cân đối khiến cây dễ bị sâu bệnh và rụng quả non.

Quy trình khử chát truyền thống cho quả hồng không hạt được thực hiện như thế nào để đảm bảo chất lượng?

Sau khi thu hái vào buổi sáng hoặc chiều mát khi quả chuyển màu vàng sáng, quả hồng được xếp cẩn thận và ngâm ngập trong nước sạch từ 15 đến 20 cm trong 3 ngày 3 đêm (khoảng 72 đến 96 giờ). Cứ sau 1,5 ngày phải thay nước sạch một lần, tuyệt đối không dùng nước mưa, sau đó vớt ra hong khô ráo nước.

Những điểm nghẽn lớn nhất trong chuỗi tiêu thụ hồng không hạt huyện Chợ Đồn hiện nay là gì?

Điểm nghẽn lớn nhất là 90% đến 95% sản lượng phụ thuộc vào thương lái tự do, chưa hình thành chuỗi liên kết bao tiêu chính thức. Giá thu mua tại vườn chỉ đạt khoảng 15.000 đồng/kg trong khi giá bán lẻ đô thị lên tới 35.000 đồng/kg, địa phương còn thiếu công nghệ chế biến sâu và hệ thống kho bảo quản lạnh.

Căn cứ pháp lý nào định hướng phát triển và bảo hộ sản phẩm hồng không hạt Bắc Kạn?

Quyết định số 3483/QĐ-UBND ngày 11/11/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã phê duyệt quy hoạch diện tích cây hồng không hạt đạt 1.200 ha đến năm 2020. Đồng thời, Quyết định số 1721/QĐ-SHTT của Cục Sở hữu trí tuệ đã xác lập bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tạo hành lang pháp lý vững chắc để phát triển thương hiệu đặc sản.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý luận phát triển sản xuất theo chiều sâu gắn liền với quản trị chuỗi giá trị nông sản đặc sản vùng miền núi.
  • Phân tích rõ thực trạng sản xuất toàn tỉnh Bắc Kạn đạt 827 ha với sản lượng 1.925 tấn năm 2016, chỉ ra tiềm năng lớn tại 2 xã Quảng Bạch và Đồng Lạc.
  • Nhận diện chính xác mắt xích hạn chế khi 98% hộ chưa ứng dụng quy trình kỹ thuật chuẩn và 90% đến 95% sản lượng phụ thuộc thương lái tự do.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm: quy hoạch đất đai, nhân giống ghép chuẩn 10TCN-2001, thành lập hợp tác xã và thương mại hóa chỉ dẫn địa lý số 00021.
  • Xác lập lộ trình tổ chức thực hiện đồng bộ đến năm 2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu 1.200 ha chuyên canh, nâng cao thu nhập cho đồng bào nông dân địa phương.

Luận văn đã đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và khung giải pháp quản trị kinh doanh có tính ứng dụng cao cho ngành nông nghiệp huyện Chợ Đồn. Trong lộ trình tiếp theo từ năm 2018 đến năm 2020, địa phương cần khẩn trương số hóa quy trình quản lý chất lượng và đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp bao tiêu. Các nhà quản lý, doanh nhân và học viên quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng vào các dự án phát triển nông nghiệp bền vững.