Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, phát triển cây ăn quả nhiệt đới được xác định là hướng đi bền vững nhằm khai thác lợi thế sinh thái và nâng cao thu nhập cho người nông dân. Đến năm 2016, tổng diện tích cây ăn quả cả nước đạt khoảng 848,64 nghìn ha, tăng 2,6% so với năm 2015. Tại tỉnh Lào Cai, huyện Bảo Thắng sở hữu dải đất phù sa màu mỡ ven tả ngạn sông Hồng cùng nền khí hậu nhiệt đới gió mùa có độ ẩm bình quân 86%, tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây na (Annona squamosa) sinh trưởng và phát triển. Tính đến cuối năm 2015, diện tích trồng na tập trung toàn huyện đạt 161 ha, tăng mạnh từ quy mô 75 ha phân tán trước đây, trong đó 120 ha thuộc dự án cải tạo và phát triển vùng sản xuất hàng hóa giai đoạn 2013 - 2015.

Tuy vậy, hoạt động sản xuất na tại huyện Bảo Thắng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về quy mô và công nghệ. Năng suất na bình quân năm 2015 chỉ đạt 56,18 tạ/ha với tổng sản lượng khoảng 360 tấn, thấp hơn nhiều so với các vùng chuyên canh lớn như Lạng Sơn (92 tạ/ha) hay Quảng Ninh (95 tạ/ha). Bên cạnh đó, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật chưa đồng đều, khâu bảo quản sau thu hoạch còn yếu và có tới 95,58% sản lượng phải tiêu thụ qua hệ thống thương lái trung gian, khiến người sản xuất dễ bị ép giá vào cao điểm vụ mùa.

Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp "Phát triển sản xuất Na trên địa bàn huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai" do tác giả Đoàn Mạnh Linh thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng sản xuất và xác định các nhân tố ảnh hưởng. Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn 3 xã trọng điểm gồm Thái Niên, Phong Niên và Xuân Quang trong giai đoạn 2011 - 2016. Nghiên cứu hướng tới mục tiêu tối ưu hóa tỷ suất giá trị sản xuất trên chi phí hiện ở mức 2,73 lần và gia tăng thu nhập hỗn hợp đạt trên 439,05 nghìn đồng/công lao động cho nông hộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, kết hợp giữa lý thuyết phát triển theo chiều rộng và lý thuyết phát triển theo chiều sâu. Phát triển theo chiều rộng phản ánh việc gia tăng sản lượng thông qua khai thác thêm tài nguyên đất đai và bổ sung lao động giản đơn. Ngược lại, phát triển theo chiều sâu chú trọng vào đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ sinh học, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp và gia tăng giá trị thặng dư trên một đơn vị diện tích.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết hàm sản xuất nhằm lượng hóa mối quan hệ kỹ thuật giữa các yếu tố đầu vào như nguồn vốn, quỹ đất, cây giống, phân bón vô cơ, phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật, ngày công lao động với năng suất và sản lượng đầu ra. Nghiên cứu cũng tích hợp lý thuyết chuỗi giá trị và kênh phân phối nông sản, phân tích sự vận động của hàng hóa qua các mắt xích từ hộ nông dân, thương lái thu gom, đại lý bán buôn, tiểu thương bán lẻ đến người tiêu dùng cuối cùng. Các khái niệm cốt lõi về hiệu quả kinh tế nông hộ, nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý và các quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật năng suất cận biên giảm dần tạo nên khung phân tích toàn diện cho ngành hàng cây ăn quả.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong khung thời gian 2011 - 2016. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Bảo Thắng, báo cáo tổng kết của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông huyện và các văn bản chính sách phát triển nông nghiệp của tỉnh Lào Cai.

Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên để khảo sát 90 hộ nông dân trực tiếp canh tác na tại 3 xã Thái Niên, Phong Niên và Xuân Quang. Đây là 3 địa phương trọng điểm chiếm hơn 70% tổng diện tích na của toàn huyện và mang tính đại diện cao cho các tiểu vùng sinh thái ven sông Hồng. Ngoài ra, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 15 thương lái, 10 đại lý vật tư nông nghiệp và 10 cán bộ quản lý cấp huyện, xã. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện về quy mô diện tích, thâm niên canh tác và phương thức tiêu thụ của nông hộ.

Phương pháp xử lý số liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp hạch toán kinh tế nông nghiệp. Hệ thống chỉ tiêu phân tích gồm có giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị gia tăng (VA), thu nhập hỗn hợp (MI), lợi nhuận thuần (LN), tỷ suất GO/TC và mức thu nhập hỗn hợp trên một công lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện tích trồng na tại huyện Bảo Thắng có sự bứt phá mạnh mẽ từ 75 ha lên 161 ha vào năm 2015. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ Dự án "Cải tạo và phát triển vùng sản xuất hàng hóa các loại cây nhãn, Na giai đoạn 2013 - 2015" do UBND huyện triển khai với diện tích trồng mới tập trung đạt 120 ha. Dù vậy, năng suất bình quân toàn huyện năm 2015 chỉ đạt 56,18 tạ/ha với sản lượng 360 tấn. Chỉ số này thấp hơn 38,9% so với vùng na Chi Lăng tại Lạng Sơn (92 tạ/ha) và thấp hơn 40,8% so với vùng na Đông Triều tại Quảng Ninh (95 tạ/ha).

Thứ hai, cây na khẳng định hiệu quả tài chính vượt trội so với nhiều cây trồng cạn tại địa phương. Nhờ giá bán na tăng trưởng bình quân 11,80%/năm trong giai đoạn 2013 - 2015, tỷ suất giá trị sản xuất trên tổng chi phí (GO/TC) đạt bình quân 2,73 lần, tức mỗi 1 đồng chi phí đầu tư mang lại 2,73 đồng doanh thu. Giá trị thu nhập hỗn hợp (MI) bình quân toàn huyện đạt 439,05 nghìn đồng/công lao động, tạo nguồn thu nhập hấp dẫn cho người dân nông thôn.

Thứ ba, cấu trúc lưu thông hàng hóa còn phụ thuộc nặng nề vào trung gian. Có tới 95,58% sản lượng na được tiêu thụ qua kênh gián tiếp gồm thương lái thu mua tại vườn và phân phối đi các tỉnh, trong khi kênh bán lẻ trực tiếp cho khách qua đường chỉ chiếm 4,42%. Do không có hợp đồng bao tiêu chặt chẽ, người trồng na thường bị ép giá từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg vào thời điểm rộ vụ.

Thứ tư, trình độ thâm canh và áp dụng quy trình kỹ thuật còn nhiều điểm nghẽn. Hơn 60% hộ điều tra vẫn sử dụng cây giống ươm từ hạt dẫn đến thoái hóa giống, lượng phân hữu cơ bón lót chỉ đạt 60% đến 65% so với định mức khuyến cáo kỹ thuật, và tỷ lệ hộ thực hiện thụ phấn nhân tạo bổ sung chỉ đạt dưới 45%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến hiệu quả sản xuất na tại Bảo Thắng chưa đạt mức tối ưu là do sản xuất còn phân tán, hạ tầng giao thông nội đồng tại các vùng đồi dốc chưa hoàn thiện và đặc biệt là chưa xây dựng được thương hiệu nông sản. So sánh với vùng na Chi Lăng (Lạng Sơn) có 1.400 ha đã được cấp nhãn hiệu tập thể từ năm 2011 hay vùng mãng cầu Bà Đen (Tây Ninh) có 4.000 ha được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, sản phẩm na Bảo Thắng bị lép vế về năng lực cạnh tranh và nhận diện thương trường.

Trong nghiên cứu, dữ liệu về chi phí sản xuất thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh được trình bày rõ ràng qua các bảng hạch toán kinh tế, kết hợp biểu đồ cơ cấu kênh phân phối nhằm phản ánh sự mất cân đối giữa khâu sản xuất và thương mại hóa. Điều này chứng minh rằng việc chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu gắn với xây dựng thương hiệu là yêu cầu cấp thiết.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất na bền vững tại huyện Bảo Thắng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, rà soát và quy hoạch vùng chuyên canh tập trung. UBND huyện Bảo Thắng phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng vùng sản xuất na hàng hóa tập trung từ 300 đến 500 ha tại 3 xã Thái Niên, Phong Niên và Xuân Quang giai đoạn 2018 - 2025. Chuyển đổi các diện tích cây trồng kém hiệu quả sang trồng na theo tiêu chuẩn an toàn VietGAP, đồng thời hoàn thiện hệ thống đường giao thông nội đồng và mạng lưới thủy lợi tưới tiêu tự động.

Thứ hai, tạo lập và phát triển nhãn hiệu tập thể "Na dai Bảo Thắng". Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai chủ trì phối hợp với Hội Nông dân huyện tiến hành đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ cho nhãn hiệu tập thể na Bảo Thắng trong giai đoạn 2018 - 2020. Thiết kế hệ thống nhận diện bao bì, dán tem QR code truy xuất nguồn gốc và cấp mã số vùng trồng nhằm nâng giá trị bán lẻ thêm 15% đến 20%, tạo điều kiện đưa sản phẩm vào các chuỗi siêu thị lớn.

Thứ ba, tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật và quản lý giống. Trạm Khuyến nông huyện cần tổ chức từ 15 đến 20 lớp tập huấn mỗi năm về kỹ thuật ghép mắt cải tạo vườn tạp, cắt tỉa cành tạo tán, thụ phấn bổ sung rải vụ và cân đối phân bón vi sinh. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ nắm vững và áp dụng quy trình kỹ thuật chuẩn lên trên 85% vào năm 2020, đồng thời kiểm soát chất lượng cây giống xuất vườn.

Thứ tư, đổi mới mô hình tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Vận động thành lập các Hợp tác xã chuyên ngành sản xuất và tiêu thụ na, đứng ra ký hợp đồng liên kết bao tiêu nông sản với doanh nghiệp theo tinh thần Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phấn đấu giảm tỷ lệ tiêu thụ tự do qua thương lái từ 95,58% xuống dưới 60% vào năm 2022, kết hợp mở các điểm quảng bá nông sản dọc tuyến Quốc lộ 70 và cao tốc Nội Bài - Lào Cai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp. Các cơ quan chuyên trách như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào Cai, UBND huyện Bảo Thắng có thể sử dụng các số liệu về 161 ha diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 22.592,85 ha và hiện trạng liên kết chuỗi để hoàn thiện đề án quy hoạch vùng cây ăn quả chủ lực.

Thứ hai, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về tiếp cận chuỗi giá trị, kỹ năng chọn mẫu phân tầng 90 hộ tại vùng trung du miền núi và quy trình hạch toán các chỉ tiêu GO, IC, VA, MI trong kinh tế nông hộ.

Thứ ba, các hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp phân phối và thương lái nông sản. Báo cáo phân tích chi tiết cấu trúc chi phí, biên lợi nhuận với tỷ suất GO/TC đạt 2,73 lần và dòng vận chuyển sản phẩm, giúp các đơn vị kinh doanh xây dựng phương án liên kết đầu tư vùng nguyên liệu và chế biến sau thu hoạch.

Thứ tư, các hộ nông dân trồng cây ăn quả tại khu vực miền núi phía Bắc. Tài liệu cung cấp định mức phân bón, quy trình kỹ thuật chăm sóc qua từng thời kỳ và kinh nghiệm tổ chức mùa vụ nhằm tối đa hóa thu nhập trên mỗi ngày công lao động.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng na tại huyện Bảo Thắng được ghi nhận như thế nào?
    Cây na mang lại giá trị kinh tế vượt trội với tỷ suất giá trị sản xuất trên tổng chi phí đạt 2,73 lần. Thu nhập hỗn hợp đạt 439,05 nghìn đồng trên một ngày công lao động, cao hơn hẳn canh tác màu truyền thống, cùng mức tăng giá bán bình quân đạt 11,80%/năm trong giai đoạn nghiên cứu.

  2. Vì sao năng suất na Bảo Thắng chỉ đạt 56,18 tạ/ha, thấp hơn Lạng Sơn và Quảng Ninh?
    Nguyên nhân chủ yếu do hơn 60% hộ dân tự để giống bằng hạt khiến cây thoái hóa, lượng phân hữu cơ bón lót chỉ đạt 60% đến 65% định mức khuyến cáo. Thêm vào đó, kỹ thuật thụ phấn nhân tạo và tỉa cành chưa được áp dụng đồng bộ như tại Chi Lăng (92 tạ/ha) hay Đông Triều (95 tạ/ha).

  3. Kênh tiêu thụ sản phẩm na tại Bảo Thắng đang gặp rào cản lớn nhất là gì?
    Khâu tiêu thụ gặp rủi ro lớn khi 95,58% sản lượng phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái trung gian, trong khi kênh bán trực tiếp chỉ chiếm 4,42%. Do thiếu hợp đồng thu mua cố định và thiếu công nghệ bảo quản lạnh, nông dân thường bị ép giá từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg lúc chính vụ.

  4. Cỡ mẫu và phương pháp thu thập số liệu trong luận văn được triển khai ra sao?
    Tác giả đã điều tra 90 hộ nông dân bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 3 xã trọng điểm Thái Niên, Phong Niên, Xuân Quang, kết hợp phỏng vấn sâu 15 thương lái và 10 cán bộ quản lý, cùng chuỗi dữ liệu thống kê giai đoạn 2011 - 2016 nhằm bảo đảm độ tin cậy.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho na Bảo Thắng?
    Giải pháp quan trọng nhất là đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể "Na dai Bảo Thắng", áp dụng chuẩn VietGAP, dán tem QR code truy xuất nguồn gốc và thành lập hợp tác xã liên kết tiêu thụ trực tiếp với siêu thị để tăng giá trị thương phẩm thêm 15% đến 20%.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển sản xuất na tại huyện Bảo Thắng với quy mô 161 ha và sản lượng hàng năm đạt khoảng 360 tấn.
  • Xác thực hiệu quả kinh tế nổi bật của cây na với hệ số GO/TC đạt 2,73 lần và thu nhập 439,05 nghìn đồng/công lao động, khẳng định vai trò cây làm giàu cho nông hộ.
  • Nhận diện rõ các nút thắt về giống thoái hóa, kỹ thuật thâm canh hạn chế và sự phụ thuộc tới 95,58% vào mạng lưới thương lái trung gian.
  • Đề xuất đồng bộ hệ thống 4 giải pháp gồm quy hoạch vùng tập trung 300 - 500 ha, xây dựng nhãn hiệu tập thể, nâng cao năng lực khuyến nông và thiết lập chuỗi liên kết tiêu thụ.
  • Đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ việc triển khai các đề án tái cơ cấu nông nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020 - 2025.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác chi tiết số liệu hạch toán và mô hình liên kết trong toàn văn luận văn để áp dụng vào thực tiễn phát triển nông nghiệp hàng hóa tại địa phương.