Mở đầu - Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn - Phần 3. Phương pháp nghiên cứu - Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2.
Lý luận về phát triển sản xuất 2. Khái niệm phát triển Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển Theo World Bank (1992): Phát triển là sự tăng trưởng về kinh tế, bao gồm những thuộc tính liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự do về chính trị và các quyền tự do của con người. Phát triển là một quá trình chuyển biến của xã hội, là chuỗi những chuyển biến có mối quan hệ hữu cơ qua lại. Sự tồn tại và phát triển của xã hội hôm nay là sự kế thừa có chọn lọc những di sản của quá khứ (Lê Cao Đoàn, 1993).
Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng, phát triển bên cạnh sự tăng lên về thu nhập bình quân đầu người nó còn đề cập tới nhiều khía cạnh nữa như: Sự tăng trưởng cộng các thay đổi cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, sự đô thị hóa, vấn đề công bằng, phân phối lợi ích trong xã hội, sự tham gia các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra sự thay đổi (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997). Hiện nay, mọi quốc gia đều nhấn mạnh mục tiêu phát triển phải trải qua thời gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất: “Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nên kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội. Đó là sự tiến bộ về cuộc sống tốt đẹp hơn.
Phát triển kinh tế được hiểu là tăng lên về số lượng và chất và là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mọi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006). Theo Gerard Crellet thì “Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản” (Lê Cao Đoàn, 1993). Tác giả Raaman Weitz cho rằng “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”. Với Ngân hàng Thế giới, phát triển với ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính có liên quan đến hệ thống giá trị của con người đó là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia. Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Còn phát triển có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997). Phát triển cũng được hiểu là đáp ứng nhu cầu hiện tại, nhưng để đảm bảo phát triển bền vững thì phát triển hiện tại phải không làm tổn thương đến nhu cầu phát triển của tương lai. Do đó trên thế giới đã xuất hiện khái niệm mới về phát triển, là “phát triển bền vững”. Như vậy phát triển bền vững phải lồng ghép các vấn đề kinh tế, xã hội với bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, phát triển bền vững được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau" Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nhưng có thể hiểu phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ đâu đều thoả mãn các nhu cầu sống của mình, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực, không có chiến tranh. Nói cách khác phát triển là việc nâng cao hạnh phúc của người dân, bao hàm nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khoẻ, sự bình đẳng về cơ hội; đảm bảo các quyền về chính trị và công dân là những mục tiêu rộng hơn của phát triển (Lê Cao Đoàn, 1993). Khái niệm sản xuất a) Khái niệm Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trong sản xuất con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống.
Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội (Phan Thúc Huân, 2005). Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997). Quá trình sản xuất là việc chuyển các đầu vào, dưới hình thức lao động của con người và những nguồn lực vật chất khác, thành đầu ra.
Những đầu ra này có thể được sử dụng là đầu vào cho quá trình sản xuất khác hoặc là những sản phẩm cuối cùng được phân chia cho các thành viên trong xã hội với vai trò là người tiêu dùng cuối cùng (Phạm Vũ Luận, 2002). Đầu vào của sản xuất bao gồm các yếu tố như sau: Lao động, đất đai, máy móc, vốn, nguyên liệu, trình độ quản lý.Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau. Đầu ra là kết quả quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như: Lương thực, thực phẩm, rau xanh, hoa quả. nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.
Mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra được thể hiện ở hàm sản xuất (hàm sản xuất là mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa đầu vào và đầu ra) Theo Philip Wicksteed: Hàm sản xuất được nhằm chuyển đổi các yếu tố đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm cụ thể.xn) Trong đó: Y: Mức sản lượng đầu ra x1, x2,.xn: Các yếu tố đầu vào Việc sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra hợp lý, tuân theo quy luật mới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Như vậy trong quá trình sản xuất ta cần chú ý đến mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra để kịp thời tác động đến nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất sản phẩm na dai được nâng cao. Trong quá trình sử dụng đầu vào này thường kéo theo việc sử dụng đầu vào khác. Đó là quan hệ bổ trợ giữa các yếu tố đầu vào.
Quan hệ thay thế được thể hiện: Khi ta tăng sử dụng đầu vào này thì đồng thời sẽ giảm sử dụng đầu vào khác. Các yếu tố tham gia vào sản xuất Na bao gồm yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong sản xuất na Yếu tố đầu vào là: Đất đai, nguồn vốn, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động, công cụ máy móc kỹ thuật… Yếu tố đầu ra: Khối lượng sản phẩm Na trong 1 chu kỳ sản xuất và giá trị thu được. b) Phương thức sản xuất Có 2 phương thức sản xuất: Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu bản thân và gia đình họ không có sản phẩm dư thừa đem ra trao đổi mua bán trên thị trường.
Sản xuất cho thị trường hay nói cách khác là phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa. Mục tiêu cơ bản là sản xuất ra sản phẩm để đem trao đổi mua bán trên thị trường. Ra đời từ hai tiền đề: Phân công lao động xã hội và sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sản xuất hàng hóa xuất hiện từ khi xã hội công xã nguyên thủy tan rã.
Nhưng chỉ phát triển và trở thành phương thức thống trị khi, sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành và sức lao động trở thành hàng hóa. Ở những nước đi từ nền kinh tế lạc hậu, mang nặng tính tự cung, tự cấp tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN thì quá trình phát triển kinh tế nhất thiết phải là quá trình phát triển sản xuất hàng hóa (Chu Văn Cấp và cs. c) Các quy luật sản xuất Các quy luật sản xuất gồm có: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật năng suất cận biên giảm dần. Ngoài ra, cây Na là loại cây lâu năm nên tuân theo cả quy luật sinh trưởng và phát triển của cây lâu năm.
Các giai đoạn phát triển của cây Na gồm: + Giai đoạn xây dựng cơ bản: Làm đất, trồng, chăm sóc. + Giai đoạn sản xuất kinh doanh: Chăm sóc, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. d) Vai trò của sản xuất Sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội của con người; nó là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của xã hội loài người. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát từ nhân tố “con người hiện thực” C.Mác cho rằng, tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người và đó là việc: “con người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử”.
Muốn vậy con người cần có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo.