CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU 1. Cơ sở lý luận về sự phát triển cao su 1. Khái niệm phát triển và phát triển sản xuất cao su Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất.
Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [8] Phát triển “là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự sự vật. Quá trình trình vận động đó đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.”[9] Theo quan điểm của tác giả, phát triển là sự tăng lên cả về số lượng và cả về chất lượng của một sự vật, hiện tượng theo thời gian. Sự tăng lên này có thể không theo một tốc độ ổn định từ năm này sang năm khác mà còn phụ thuộc vào bản chất sự vật, hiện tượng và các tác động của yếu tố môi trường.
Từ những nghiên cứu về phát triển, tác giả đưa ra quan điểm về triển sản xuất cao su như sau: Phát triển cây cao su là sự gia tăng về quy mô, số lượng và sự tiến bộ về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế xã hội. Như vậy, phát triển cây cao su bao hàm cả sự biến đổi về diện tích, năng suất, sản lượng, kỹ thuật. - Sự phát triển về diện tích trong sản xuất cao su thông qua khai hoang, phục hóa đất chưa sử dụng hoặc đất cằn cổi. Diện tích trồng cao su tăng lên khiến gia 5 tăng khối lượng sản phẩm cao su sản xuất, gia tăng tổng giá trị, gia tăng lượng hàng hóa cao su, mở rộng thị trường tiêu thụ v.
- Sự phát triển sản xuất cao su về năng suất mủ khai thác là nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất, tăng lượng mủ khai thác của từng ha. Từ đó làm tăng sản lượng sản xuất cao su, tăng tổng giá trị sản xuất cao su, đồng thời gia tăng sự đóng góp sản xuất cao su cho kinh tế xã hội của địa phương. - Phát triển các khoa học công nghệ ứng dụng trong chăm sóc và khai thác vườn cao su. Sử dụng các công nghệ, máy móc tiên tiến sẽ làm giảm thời gian lao động của người dân đồng thời khả năng sinh trưởng và phát triển của vườn cây đạt mức tốt nhất, rút ngắn thời gian KTCB và vườn cây sẽ đạt mức năng suất cao.
Điều này tác động trực tiếp sản lượng cao su và tổng giá trị sản xuất cao su. - Tăng chất lượng lao động tại vườn cây tức là đào tạo lao động chăm sóc và khai thác vườn cây. Lao động trực tiếp có thể hiểu được tập tính sinh trưởng, phát triển của cây cao su, nắm bắt được kỹ thuật về chăm sóc và khai thác sao cho trong quá trình làm việc luôn giúp vườn cây ở trạng thái tốt nhất. Điều này sẽ làm gia tăng sản lượng mủ cao su khai thác và tăng giá trị sản xuất cao su.
Phát triển sản xuất cao su trên cơ sở phải đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Quá trình thực hiện phải có lộ trình, bước đi phù hợp, gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững. Ý nghĩa phát triển sản xuất cao su Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi.
Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật. Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp 6 nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người. Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bão thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người. Trong những thập niên đầu của thế kỷ 21 nhắc đến cây cao su và giá trị kinh tế của nó thì ai ai cũng biết đây là loại cây cho ra dòng vàng trắng, nó góp phần vào phát triển kinh tế cho hầu hết các tỉnh Đông Nam bộ cũng như một số tỉnh thuộc miền Trung Tây nguyên và Duyên hải miền Trung, đóng góp không hề nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu cũng như GDP cho đất nước. Việc phát triển cây cao su có vai trò sau đây: Thứ nhất, tạo ổn định công ăn việc làm và đời sống kinh tế cho hàng trăm ngàn lao động trong cả nước. Trong đó có hàng chục ngàn lao động là đồng bào dân tộc thiểu số, công ăn việc làm không ổn định, tập quán phá rừng làm nương, du canh du cư, một số không hề nhỏ bộ phận công dân này trước đây đã góp phần tạo nên những tệ nạn xã hội như nghiện hút và trồng cây thuốc phiện.
Thứ hai, về mặt giá trị kinh tế nó mang lại là sản phẩm mủ và gỗ cao su, góp phần tạo công ăn việc làm cho người nông dân, tạo ra sản phẩm co xã hội, là nguồn sản phẩm quan trọng trong việc xuất khẩu đưa về nguồn thu ngoại tệ không hề nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu sản phẩm. Thứ ba, về giá trị môi trường nó đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho hàng trăm ngàn héc ta rừng đã bị thiêu rụi, tàn phá dưới bàn tay con người, nó tiêu hủy đi các khí thải công nghiệp đang ùn ùn từ các nhà máy, để sản sinh ra khí ôxi cho chúng ta được hít thở không khí trong lành; giảm nhẹ các rủi ro do thiên tai như lũ lụt, bão… Thứ tư về mặt an ninh chính trị: Như chúng ta đã biết đồng bào vùng sâu vùng xa đồng bào dân tộc thiểu số đa phần có trình độ dân trí và nhận thức thấp, từ đó các thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để tuyên truyền cho người dân chống phá cách 7 mạng. Trong những năm trước tại một số địa phương của các tỉnh Tây Nguyên, Miền núi phía Bắc người dân đồng bào còn tham gia vào các cuộc bạo loan, chống phá cách mạng, chống phá Đảng ta. Từ sau khi có công ăn việc làm ổn định, được vào công nhân, được các tổ chức đoàn thể cũng như tổ chức đảng của các doanh nghiệp trồng và phát triển cao su tuyên truyền vận động, đến nay đa phần bộ phận công nhân và người dân trên địa bàn những vùng nói trên đã nhận thức rõ được tư tưởng chính trị cũng như ý đồ chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, họ đã dần ổn định và tham gia lao động sản xuất là trồng và chăm sóc cây cao su.
Đặc điểm của sản xuất cao su 1. Đặc điểm sinh học của cây cao su Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu với điều kiện bất lợi cao và là cây bảo vệ môi trường nên được nhiều nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thích hợp quan tâm phát triển trên qui mô diện tích lớn. Hiện nay, Việt Nam chỉ trồng và khai thác cây cao su tự nhiên. Các giống cao su đang được trồng là GT1, PR 225, PR 261, Hevea brasiliensis….
và một số giống mới như RRIV 4, RRIV 2. Thời gian khai thác của cây cao su thường kéo dài khoảng 25 đến 30 năm. Giai đoạn thiết kế cơ bản của lô cao su tính từ năm trồng được qui định tuỳ theo mức độ thích hợp của vùng đất canh tác, trung bình giai đoạn này kéo dài từ 6- 8 năm. Giai đoạn này đòi hỏi nhiều sự đầu tư về vật chất, kỹ thuật, phân bón cũng như là sự chăm sóc.
Tuy nhiên, đây là giai đoạn cây cao su cho ít mủ nhất. Lô cao su kiến thiết cơ bản có từ 70% trở lên số cây hữu hiệu đạt tiêu chuẩn mở cạo thì được đưa vào cạo mủ. Vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và một số khu vực tại Nam Trung Bộ là những nơi có điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp với cây cao su, nên diện tích cao su phần lớn được trồng ở các khu vực này. Trong đó, Đông Nam Bộ là khu vực có diện tích lớn nhất.
Chu kỳ sản xuất cao su được chia làm 2 thời kỳ: KTCB (7 năm) TKKD (25-30 năm) 8 a) Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Là khoảng thời gian 07 năm của cây cao su tính từ khi trồng cây. Đây là khoảng thời gian cần thiết để vành thân cây cao su đạt 50 cm đo cách mặt đất 1m. Tuỳ điều kiện sinh thái, chăm sóc và giống, ở điều kiện sinh thái đặc thù của vùng duyên hải miền Trung, thời gian KTCB phổ biến là từ 7 - 8 năm. Tuy nhiên, với điều kiện chăm sóc, quản lý vườn cây đúng quy trình, chọn giống và vật liệu trồng thích hợp thì có thể rút ngắn thời gian KTCB từ 06 tháng đến 01 năm.
- Mật độ: + Tùy theo điều kiện của từng vùng mà mật độ trồng cây cao su có thể khác nhau nhưng giao động từ 510 cây đến 555 cây/ha với khoảng cách: 6x3m (khoảng 555 cây/ha) 6 x 3.7 m (khoảng 544 cây/ha) + Đất tốt cây phát triển mạnh thì trồng thưa hơn đất xấu.