Thực Trạng Sản Xuất Đậu Tương Đông Tại Thái Nguyên Và Các Giải Pháp Kỹ Thuật Hiệu Quả

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích thực trạng sản xuất và một số giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển đậu tương đông tại thái nguyên, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2010

216
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tình hình sản xuất đậu tương tại Thái Nguyên

Sản xuất đậu tương tại Thái Nguyên đang gặp nhiều khó khăn. Diện tích trồng đậu tương Đông còn hạn chế, chỉ chiếm 0,39% diện tích đất trồng đậu tương. Mặc dù có tiềm năng lớn để mở rộng diện tích, nhưng việc áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại còn thấp. Thời tiết khắc nghiệt trong vụ đông, như khô lạnh và thiếu nước tưới, là những yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất. Theo số liệu, năm 2004, diện tích trồng đậu tương đạt 3.572 ha với năng suất 12,09 tạ/ha. Tuy nhiên, sản lượng này chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường. Việc phát triển đậu tương không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho nông dân mà còn góp phần vào an ninh lương thực của tỉnh.

1.1. Các yếu tố thuận lợi và hạn chế

Thái Nguyên có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển đậu tương như đất đai màu mỡ và khí hậu phù hợp. Tuy nhiên, các yếu tố hạn chế như thiếu nước tưới, trình độ thâm canh thấp và thiếu các biện pháp kỹ thuật hiện đại đã cản trở sự phát triển. Nông dân chưa được tiếp cận đầy đủ với các giống đậu tương mới và kỹ thuật canh tác tiên tiến. Việc thiếu thông tin và hỗ trợ từ các cơ quan chức năng cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Cần có các giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế này, từ đó nâng cao năng suất và sản lượng đậu tương tại Thái Nguyên.

II. Giải pháp kỹ thuật phát triển đậu tương Đông

Để phát triển đậu tương vụ đông tại Thái Nguyên, cần áp dụng các giải pháp kỹ thuật đồng bộ. Trước hết, việc lựa chọn giống đậu tương phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai là rất quan trọng. Giống VX93 được đánh giá cao về khả năng sinh trưởng và năng suất. Bên cạnh đó, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tưới nước hợp lý, bón phân vi sinh và giữ ẩm cho đất. Các nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng phân bón vi sinh có thể cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng hạt. Ngoài ra, việc tổ chức các lớp tập huấn cho nông dân về kỹ thuật trồng đậu tương cũng rất cần thiết để nâng cao nhận thức và kỹ năng canh tác.

2.1. Xây dựng quy trình kỹ thuật

Xây dựng quy trình kỹ thuật trồng đậu tương vụ đông cần được thực hiện một cách bài bản. Quy trình này bao gồm các bước từ chọn giống, gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Cần xác định thời vụ gieo trồng hợp lý để đảm bảo cây phát triển tốt nhất. Việc áp dụng các biện pháp giữ ẩm và tưới nước đúng thời điểm sẽ giúp cây phát triển mạnh mẽ, giảm thiểu thiệt hại do thời tiết khắc nghiệt. Hơn nữa, việc theo dõi và đánh giá thường xuyên tình hình sinh trưởng của cây cũng là một phần quan trọng trong quy trình này, giúp nông dân có thể điều chỉnh kịp thời các biện pháp canh tác.

III. Ý nghĩa thực tiễn của việc phát triển đậu tương Đông

Việc phát triển đậu tương vụ đông không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nông nghiệp Thái Nguyên. Đậu tương là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, cung cấp protein và các chất dinh dưỡng thiết yếu cho con người và gia súc. Sản xuất đậu tương cũng giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất, từ đó nâng cao năng suất cây trồng khác trong hệ thống luân canh. Hơn nữa, việc phát triển đậu tương còn tạo ra nhiều việc làm cho người dân địa phương, góp phần giảm nghèo và nâng cao đời sống.

3.1. Tác động đến kinh tế xã hội

Sản xuất đậu tương vụ đông có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội của Thái Nguyên. Việc mở rộng diện tích trồng đậu tương sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho nông dân, đồng thời góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng hàng hóa. Điều này không chỉ giúp nâng cao đời sống của người dân mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Hơn nữa, việc phát triển đậu tương còn giúp tăng cường an ninh lương thực, đảm bảo nguồn thực phẩm cho người dân trong tỉnh.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương trên thế giới 1. Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới 1. Kết quả nghiên cứu về giống đậu tương Hiện nay nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở các nước; Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn quốc, Thái Lan, Đài Loan, Mỹ, Canada với tổng số 45.

Châu Á được coi là khu vực sản xuất đậu tương quan trọng trên thế giới, ở đây có các khu thí nghiệm chọn tạo giống hiện đại với sự tài trợ của nhiều cơ quan và tổ chức quốc tế, như: Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (IITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC), Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp vùng Đông Nam Á, Chương trình đậu tương quốc tế (INSOY và ISVES). Các cơ quan, tổ chức này được thành lập với mục tiêu là tập hợp, phân phối các bộ giống đậu tương tiến bộ cho các điểm tham gia thí nghiệm nhằm xác định và phổ biến các giống có khả năng thích ứng rộng rãi với điều kiện các nước trong khu vực (Hartwig E. Trung tâm phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean- Evaluation trial- Aset). Giai đoạn 1 đã phân bố được trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 nước Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới.

Đặc biệt từ năm 1970 đến nay, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á đã thành công trong việc tạo ra giống đậu tương G2120 bán hữu hạn, hạt nhỏ, đánh dấu một bước mới trong việc tạo giống có tiềm năng năng suất cao (70 tạ/ha). Giống đậu tương có năng suất cao nhất thế giới thập kỷ 70 là giống Miyakishrome ở Nhật với năng suất tiềm năng là 78 tạ/ha. Mỹ và n 7 Canada là những nước chú ý đến việc chọn tạo giống đậu tương, ở 2 nước này có khoảng 10.000 mẫu giống, đưa vào sản xuất trên 100 dòng có khả năng chống chịu tốt với bệnh Phytophthora và thích ứng rộng như Amsoy 71, Lec 36… Hướng chủ yếu trong công tác nghiên cứu của các nhà di truyền, chọn giống Mỹ là sử dụng các tổ hợp lai phức tạp, cũng như nhập nội thuần hoá trở thành giống thích nghi với vùng sinh thái, đặc biệt nhập nội để bổ sung vào quỹ gen. Đồng thời công tác chọn giống ở Mỹ là hướng mục tiêu vào việc chọn ra những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H.

Tại Brazil, năm 1976 gần 1.500 dòng đậu tương đã được trung tâm nghiên cứu quốc gia chọn và tạo ra các giống Doko, Numbaira, IAC- 8, Cristalina là những giống thích hợp cho vùng đất thấp ở trung tâm Brazil. Năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 3,8 tấn/ha. Hướng nghiên cứu trong thời gian tới của Brazil cho vùng đất này là chọn ra những giống đậu tương có thời gian từ trồng đến ra hoa là 40- 50 ngày, đến chín là 107- 120 ngày, có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và kháng sâu bệnh như BR79-1098, BR- 10 (Deloyche J. Ở châu Á, Trung Quốc là quốc gia có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo giống, sản xuất đậu tương.

Mấy năm gần đây, Trung Quốc đã thu thập được từ nhiều quốc gia, các vùng sinh thái khác nhau về nguồn vật liệu di truyền và vật liệu khá phong phú, đồng thời không ngừng ứng dụng các công nghệ, các tiến bộ khoa học kỹ thuật để cải tiến các giống cũ. Do đó, họ đã chọn tạo ra các giống mới có năng suất, chất lượng, chống chịu tốt dịch hại, thích hợp trong điều kiện sinh thái. Các giống điển hình là CN001, CN002, … đều cho năng suất trung bình 34- 42 tạ/ha trên nhiều vùng sản xuất. n 8 Ở Ấn Độ, từ năm 1963, đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội, tại trường Đại học Tổng hợp Pathaga.

Năm 1967, Ấn Độ thành lập tổ chức AICRPS (The all India Convidionated Research Project on Soybean) và NRCS (National Research Centre for Soybean), tập trung nghiên cứu về genotype và phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát triển giống có sức chống chịu cao với bệnh khảm- virus, tạo ra được một số giống mới có triển vọng như Birsasoil, ĐS74-24-2. Năm 1985, hai tác giả Gingh và Chaudhary đã xác định được 6 giống trong 32 giống đậu tương triển vọng có năng suất cao và ổn định như: HM93, PK73-92. Tại Trung tâm phát triển rau màu châu Á (AVRDC- Đài Loan), bằng phương pháp lai hữu tính và gây đột biến, từ năm 1961 đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống và đã đưa vào sản xuất các giống Kaohsiung 3, Tainung 3, Tainung 4…, các giống được xử lý bằng nơtron và tia X, cho các giống đột biến Tainung. Tainung 1 và Tainung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và quả không bị nứt.

Các giống này, nhất là các giống Tainung 4 đã được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo ở các cơ sở khác nhau. Kwon và cộng sự (1972) [99] khi nghiên cứu tập đoàn giống đậu tương lại cho rằng năng suất hạt có tương quan nghịch với thời gian sinh trưởng và giai đoạn từ gieo đến ra hoa. Cùng thời gian đó, Kaw và Menon (1972) [97] vẫn khẳng định về mối tương quan chặt giữa năng suất hạt với số quả trên cây, chiều cao cây, thời gian 50% ra hoa và thời gian sinh trưởng. Ở Indonesia, với các công trình nghiên cứu về cây đậu tương nhiều năm gần đây, mục đích tập trung cải tiến, hoàn chỉnh bộ giống năng suất cao, ổn định trong nhiều năm, có khả năng trồng trên những chân ruộng sau khi thu hoạch lúa, thời gian sinh trưởng 70- 80 ngày, chống chịu được bệnh gỉ sắt.

Nhiều giống tốt đã được các cơ quan khuyến cáo và đưa vào sản xuất trên diện rộng nhiều vùng sinh thái, trong đó phải kể đến giống Willi, n 9 Kerinci và Rinjani có nhiều ưu điểm mong muốn, năng suất phổ biến ở các vùng sinh thái dao động 25,2- 38,4 tạ/ha. Đặc biệt, giống Lomphatang trồng trên đất ướt 2 vụ lúa năng suất đạt 24,7- 26,8 tạ/ha và chỉ đầu tư ở mức tối thiểu (FAO, 2003) [84]. Ở Thái Lan, đã nghiên cứu và cải tiến được một số giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày cho năng suất cao, chống chịu được với sâu bệnh hại (gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn…), đồng thời chịu được đất mặn, điều kiện hạn hán Judy W. Theo Norman, (1967) [106] để tạo ra giống đậu tương người ta đã ứng dụng nhiều phương pháp khác nhau như lai hữu tính, gây đột biến, đa bội… tạo ra các kiểu gen mới có nhiều ưu điểm hơn bố mẹ và thông qua các phương pháp chọn lọc khác nhau để chọn tạo ra giống mới.

Theo Talekar, (1987) [119] các loại sâu hại đối với đậu tương là: giòi đục thân Melanagromyza soja, sâu xanh Heliothis armigera; sâu đục quả Etiella zickenella và bọ xít xanh Neza viridula L. Khi nghiên cứu ở vùng Nhiệt Đới Sepswadi (1976), thấy giòi đục thân phổ biến ở Thái Lan và Indonesia, ở những nước này tỷ lệ hại do giòi đục thân có thể lên tới 90- 100% tổng số cây. Theo Hong Liao và cộng sự (2003) [92] khi nghiên cứu xác định gen cảm ứng mặn GmPAP3 trong cây đậu tương cho thấy gen GmPAP3 trong đậu tương hoang dại có khả năng chông chịu mặn đối với muối NaCl ở cả lá và rễ. Theo Wenbing Guo và cộng sự (2008) [123] khi nghiên cứu về xác định các gen cung cấp P tạm thời trong cây đậu tương cho thấy hiệu quả của P có thể được xác định bằng một nhóm các gen có chức năng và tương tác lẫn nhau trong nhóm.

Hiện nay, công tác nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới đã được tiến hành với quy mô lớn. Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được các tổ n 10 chức quốc tế khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm thực hiện một số nội dung chính sau: - Thử nghiệm tính thích nghi của giống ở từng điều kiện, môi trường khác nhau, tạo điều kiện so sánh giống địa phương với giống nhập nội, đánh giá phản ứng của các giống trong những điều kiện môi trường khác nhau. Đã có nhiều thành công trong việc xác định các dòng, giống tốt có tính ổn định và khả năng thích ứng khác nhau với điều kiện môi trường khác nhau. - Thu thập các vật liệu di truyền sau đó tiến hành lai tạo, chọn lọc, tuyển chọn các giống phù hợp với các tiêu chuẩn của một giống tốt.

- Xác định các biện pháp kỹ thuật tiên tiến thâm canh đậu tương đạt năng suất cao, chất lượng tốt. - Khảo nghiệm các giống đậu tương ở các vùng sinh thái khác nhau để tìm khả năng thích ứng cao cho mỗi vùng sinh thái. - Xác định vùng sinh thái địa lý và thời vụ trồng đậu tương thích hợp để đạt năng suất cao 1. Kết quả nghiên cứu về thời vụ gieo trồng Thời vụ gieo trồng cũng được xác định là có sự ảnh hưởng chặt chẽ với các giống đậu tương nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu của Baihaki và cộng sự (1976) [72] cho biết: Khi nghiên cứu sự tương tác của 4 giống và 44 dòng, được chia thành 3 nhóm ở 3 địa điểm trong 2 năm cho thấy, khoảng 50% của sự tương tác giữa giống với môi trường cho năng suất hạt được xác định đối với nhóm có năng suất thấp, 25% đối với nhóm có năng suất cao và năng suất trung bình. Khi nghiên cứu các dòng, giống ở các thời vụ khác nhau đã cho thấy sự tương tác rất có ý nghĩa đối với tất cả 12 tính trạng nghiên cứu, trong đó có năng suất hạt. Ở vùng nhiệt đới, thời vụ gieo trồng đậu tương phần lớn do mùa mưa quyết định. Thời gian gieo trồng thay đổi trong năm, có nghĩa là cây đậu n 11 tương sẽ mọc dưới điều kiện thời gian chiếu sáng khác nhau của quang chu kỳ.

Thời gian chiếu sáng có thể ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương. Thực tế ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hiệu quả của quang chu kỳ đối với sự sinh trưởng và phát triển của đậu tương phụ thuộc vào các giống và thời gian kéo dài của mùa vụ gieo trồng. Các giống thích nghi với mùa vụ gieo trồng ngắn thì ít có phản ứng với những thay đổi về độ dài ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực Trạng Sản Xuất Đậu Tương Đông Tại Thái Nguyên Và Giải Pháp Kỹ Thuật Phát Triển" cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình sản xuất đậu tương tại tỉnh Thái Nguyên, đồng thời đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm. Tài liệu này không chỉ hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân mà còn là nguồn tham khảo giá trị cho những ai quan tâm đến phát triển nông nghiệp bền vững. Để mở rộng kiến thức về các giải pháp phát triển nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ thực trạng và giải pháp sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện đại từ tỉnh thái nguyên, Luận văn thạc sĩ đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên địa bàn xã huống thượng huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên, và Luận văn thạc sĩ đánh giá tình hình sản xuất và giải pháp phát triển cây chè trên địa bàn xã san thàng thành phố lai châu tỉnh lai châu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các giải pháp phát triển nông nghiệp tại các địa phương khác nhau.