Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư Chương 2. Hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1. Chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sản khoái, hài lòng (well-being) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần. Thuật ngữ chất lượng cuộc sống được sử dụng trong một loạt các ngữ cảnh bao gồm các lĩnh vực phát triển quốc tế, y tế, sức khỏe và thậm chí là cả về mặt chính trị.
Chất lượng cuộc sống không nên nhầm lẫn với khái niệm về mức sống, mà tiêu chí là dựa chủ yếu vào thu nhập. Thay vào đó, chỉ số tiêu chuẩn về chất lượng của cuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sự giàu có và việc làm, mà còn là môi trường xã hội, môi trường sống, súc khỏe (về thể chất) và tinh thần, giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư. Ngoài ra chất lượng cuộc sống nó cũng liên quan đến chỉ số hạnh , tuy nhiên, vì hạnh phúc là yếu tố mang tính chủ quan và khó để đo lường, thống kê, người ta không thể cân đong đo đếm được và không nhất thiết phải là sự giàu có, tăng thu nhập mới là sự hạnh phúc, thoải mái và mức sống không nên được coi là một thước đo duy nhất của hạnh phúc. Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng cuộc sống: - Theo Các Mác và Ph.
Ăngghen: CLCS là phải giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đảm bảo cho con người thực sự sống trong hòa bình và hạnh phúc. Theo quan điểm Mác xít: Nếu mặt số lượng của lối sống chủ yếu thể hiện ở hệ thống chỉ tiêu về phúc lợi vật chất thì CLCS hoặc nói đúng hơn mặt chất lượng của lối sống trước hết thể hiện ở trình độ tự do xã hội và ở những điều kiện phát triển của cá nhân ở những giá trị tinh thần và văn hóa của nó. Như vậy, có thể hiểu “CLCS là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần, được dùng để đánh giá mức độ sự sảng khoái, 10 hài lòng về thể chất, tâm thần và xã 2 hội. Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao CLCS cho con người là một nỗ lực của các quốc gia, xã hội và cả công đồng Quốc tế”.
- Theo giáo sư Vũ Khiêu: CLCS được hiểu là sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản của con người, CLCS được thể hiện qua hai mặt : lối sống và mức sống + Mức sống: là trình độ sinh hoạt vật chất của con người phản ánh trình độ đạt được về mặt sản xuất và là phương tiện để đánh giá CLCS. + Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT - XH nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động, hưởng thụ, trong quan hệ, giữa người với người trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa. - Liên Hiệp Quốc: cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá CLCS của con người bao gồm cả thu nhập bình quân đầu người, thành tựu y tế XH và trình độ văn hóa, giáo dục. Tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người (viết tắt HDI).
Giá trị của HDI sẽ từ 0,00 đến 1. Nước nào có HDI lớn hơn chứng tỏ sự phát triển con người cao hơn. Chỉ tiêu HDI sẽ thể hiện toàn diện và đầy đủ hơn về sự phát triển, trình độ văn minh của một quốc gia, trên cơ sở đó cho phép nhìn nhận các nước giàu, nghèo tương đối chính xác và khách quan hơn. Ngoài ra còn có thể kể đến tiêu chí như thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP) để có thể đánh giá mức sống chính xác hơn.
- Do vậy, khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh thế nào là CLCS, nhưng có thể định nghĩa một cách khái quát là : “CLCS là khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người trong hoạt động sống nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về vật chất – tinh thần”. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Quy mô và tình hình phát triển kinh tế của một quốc gia hoặc đơn vị lãnh thổ có mối quan hệ trực tiếp đến CLCSDC. Bất kì một quốc gia nào muốn nền kinh tế phát triển, dân giàu, nước mạnh đều phải trong cậy vào các nhân tố vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối, chính sách, vốn và thị trường,. những nhân tố này luôn được xem là tiền đề không 11 thể thay thế để phát triển kinh tế - xã hội.
Chúng có vai trò thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội vì vậy CLCS tăng hay giảm phụ thuộc vào các nhân tố sau đây. Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ Vị trí địa lí là một trong những nguồn lực quan trọng, vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước, giữa các quốc gia với nhau. Thực tế đã chứng minh, sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới có liên quan đến vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ như Hoa Kì, với đặc điểm nằm ở bán cầu Tây, giữa hai đại dương (Đại Tây Dương và Thái Bình Dương), giáp Canada và các nước Mĩ Latin đã giúp cho Hoa Kì không chỉ tránh được hai cuộc đại chiến trên thế giới mà còn thuận lợi trong việc giao thương với các cường quốc phương Tây và tận dụng nguồn lực nước ngoài từ các quốc gia thuộc lục địa Nam Mĩ. Một ví dụ nữa là vị trí địa lí của một quốc gia gắn liền với sự giàu có hay nghèo nàn về việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Và cuối cùng, vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất của một quốc gia, nhất là hoạt động thuộc lĩnh vực nông nghiệp, vị trí địa lí không chỉ đảm bảo tính liên tục trong sản xuất nông nghiệp ở các nước không có mùa đông lạnh, có tuyết rơi mà còn ảnh hưởng đến cơ cấu sản phẩm nông nghiệp bởi sự quy định của vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ về đặc trưng khí hậu của từng vùng, quốc gia hay khu vực. Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống. Về đại thể, nó bao gồm địa hình,đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản. Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất, đó là những nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế.
Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho sự phát triển kinh tế. Trong thực tế sự phát triển kinh tế, trình độ lực lượng sản xuất và tài nguyên thiên nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau vì tài nguyên thiên nhiên không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, là cơ sở tự nhiên của quá trình sản 12 xuất, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế và ảnh hưởng đến quy mô kinh tế mà về nguyên tắc số lượng và quy mô tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển của sức sản xuất. Sức sản xuất càng phát triển thì phạm vi tài nguyên ngày càng được mở rộng, trong lịch sử phát triển của xã hôi loài người, số lượng các loại tài nguyên được bổ sung không ngừng. Tài nguyên thiên nhiên chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi được khai thác một cách có hiệu quả và bền vững việc này được biểu hiện ở sự hạn chế trong phát triển kinh tế ở một số quốc gia giàu tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản nhưng ngược lại có nước gặp không ít vấn đề khó khăn về tài nguyên thiên nhiên song vẫn là quốc gia hàng đầu thế giới về tiềm lực kinh tế mà Nhật Bản có thể coi là một ví dụ điển hình.
Nhân tố kinh tế xã hội - Dân cư, nguồn lao động, dân tộc Dân cư vừa là động lực tạo ra của cải vật chất, vừa là nguồn tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ xã hội. Nói cách khác, con người tạo nên cả cung lẫn cầu của nền kinh tế, đồng thời trực tiếp điều tiết mối quan hệ này với các thể chế kinh tế - xã hội do con người đặt ra. Do đó, dân cư có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn. Dân số và cả những nội hàm của nó (Dân cư, nguồn lao động, dân tộc,.) thật sự có liên quan rất mật thiết đến sự phát triển của mỗi quốc gia, địa phương cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân.
+ Về kinh tế, dân số đông, tỉ lệ dân số tham gia hoạt động kinh tế cao sẽ đem lại nguồn lao động cho sản xuất đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề nan giải như các vấn đề về việc làm mà trong đó phổ biến là thất nghiệp và thiếu việc làm nhất là trong thời đại công nghệ 4.0 thời đại của lao động tri thức, của sự giải phóng sức lao động của sự cạnh tranh về năng lực chuyên môn thì càng đặt con người phải đứng trước trước áp lực nâng cao trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm. + Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệ thống giáo dục việc này sẽ dễ dẫn đến ảnh hưởng trình độ dân trí cũng như chất lượng giáo dục và đó là khoảng cách rất gần để hạ thấp chất lượng xã hội cũng như chất lượng cuộc sống.