Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Đinh Chương 3: Hiện trạng và một số giải pháp phát triển không gian xanh thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nghiên cứu không gian xanh 1.Trên thế giới Trên thế giới việc nghiên cứu mảng xanh, KGX cho quy hoạch phát triển một khu vực, TP đã đƣợc thực hiện từ rất lâu. Đến nay đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện dần cả về mặt luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Có thể khái quát thành các giai đoạn nghiên cứu sau: - Giai đoạn trước 1995: Hầu hết, các công trình nghiên cứu trƣớc những năm 1995 đều chú trọng nghiên cứu KGX với các dải cây xanh, các mảng xanh công viên trong đô thị, nhằm hƣớng tới sự khớp nối các mảnh rời rạc cho phát triển hài hòa của một kiến trúc đô thị.
Điển hình nhƣ: Năm 1986, tác giả D. Iarogina và nhóm chuyên gia ngƣời Nga đã đƣa ra định nghĩa, phân loại và tổ chức hệ thống KGX đô thị trong cuốn sách “Cơ sở lý thuyết Quy hoạch đô thị”, trong đó KGX đô thị đƣợc nhấn mạnh nhƣ là các dải cây xanh đƣờng phố và các công viên trong khu đô thị. Năm 1992, nhóm chuyên gia thuộc Bộ Trang thiết bị, Nhà ở, Giao thông và du lịch của Pháp đã công bố công trình nghiên cứu về quản lí KGX (L`amenagement des espaces verts), trong đó đã đƣa ra định nghĩa, phân loại toàn diện về KGX đô thị. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đề xuất trình tự, nội dung, phƣơng pháp quy hoạch, thiết kế KGX và vấn đề luật pháp hóa và quy chế quản lí KGX đô thị.
Năm 1995, chính quyền TP Milan (Ý) thông qua bản quy hoạch đô thị, trong đó một phần quan trọng là quy hoạch hệ thống công viên cây xanh. Trọng tâm là dự án phát triển 9 công viên lớn ở trung tâm TP, kết hợp với hệ thống các quảng trƣờng và vƣờn hoa trên khắp TP. Các hệ thống này đƣợc kết nối với nhau nhờ các đại lộ cây xanh. Do quy hoạch hợp lý, hệ thống này khiến cho ngƣời đi lại trên các tuyến đƣờng dành cho ngƣời đi bộ và xe đạp luôn đƣợc đi qua những tuyến phố xanh mát bóng cây.
Hoặc từ thập niên 1980, cùng những thành tựu KT, Singapore đã chú trọng phát triển TP xanh – sạch – đẹp. Các khu đô thị chất lƣợng cao dần dần đƣợc hình thành. Dựa trên các nghiên cứu khoa học về điều kiện tự nhiên và quy hoạch kiến 9 trúc của Singapore, chính phủ nƣớc này đã xác định các loài cây quan trọng để trồng trên đƣờng phố, đó là lim, lọng ô, muồng tím, angsana và xà cừ. Thông thƣờng, tỉ lệ phủ xanh của các TP sẽ tụt giảm, tỷ lệ nghịch với đà phát triển KT và dân số.
- Giai đoạn từ 1995 đến nay: Các công trình nghiên cứu về KGX không chỉ bó hẹp trong các dải cây xanh, công viên và vƣờn hoa trong TP với các công trình kiến trúc đô thị. Quan điểm về KGX đƣợc mở rộng dƣới nhiều góc nhìn nghiên cứu kể cả sinh thái, cảnh quan sinh thái, địa lí, môi trƣờng, cảnh quan sinh thái đô thị,… Do vậy, từ quan điểm, phƣơng pháp nghiên cứu về KGX đƣợc mở rộng, đặc biệt dƣới cuộc cách mạng công nghệ 4.0, việc ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS trong nghiên cứu biến động KGX, lớp phủ đã mở rộng nhiều hƣớng nghiên cứu cho KGX. Điển hình nhƣ: Năm 2000, TP Milan (Ý) không chỉ có KGX trong nội đô, mà Milan còn nghiên cứu kỹ lƣỡng đặc điểm tự nhiên của TP cho việc phát triển vành đai xanh bao quanh TP, đó là hệ thống rừng kiêm công viên với diện tích lớn. Các thảm rừng này chính là các hình thái KGX đa chức năng, kết nối với các công viên cây xanh trong TP nhờ dự án Green Ray.
Nhờ tích cực thực hiện các dự án phủ xanh TP, mật độ cây xanh công cộng ở Milan nay đã đảm bảo đƣợc nhu cầu của ngƣời dân và giữ cho không khí TP trong lành. Tƣơng tự, Singapore đã nghiên cứu đặc điểm tự nhiên cho phát triển các mảng rừng tự nhiên trong TP nhƣ là một đơn vị cảnh quan xanh đa chức năng, do vậy thông thƣờng, tỉ lệ phủ xanh của các TP sẽ tụt giảm, tỷ lệ nghịch với đà phát triển KT và dân số. Tuy nhiên, ở Singapore thì hoàn toàn trái lại. Từ những năm 2000 đến nay, dù dân số và KT liên tục tăng trƣởng, tỉ lệ phủ xanh của Singapore cũng liên tục đƣợc nâng cao.Garcia đã công bố công trình nghiên cứu về “Các chỉ số bền vững về MT trong quản lí KGX” áp dụng cho Argentina.
Việc đánh giá các loại KGX ảnh hƣởng đến việc cung cấp dịch vụ hệ sinh thái đƣợc thể hiện qua công trình nghiên cứu của tác giả Graca M.el al (2018) ở Porto, 10 Bồ Đào Nha. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ rõ sự phân bố không đồng đều của các loại KGX đã ảnh hƣởng sự tiếp cận các tầng lớp xã hội khác nhau. Ngày nay, công nghệ viễn thám trong nghiên cứu lớp phủ, KGX, biến đổi cảnh quan đã đƣợc nhiều nghiên cứu trên thế giới tiếp cận và sử dụng. Các tƣ liệu viễn thám ở các độ phân giải khác nhau đƣợc sử dụng phổ biến để phân tích sự thay đổi về không gian, lớp phủ bề mặt/sử dụng đất, CQ đô thị,… Còn GIS đã đƣợc sử dụng để giải quyết các bài toán khác nhau về hình thái một khu vực đô thị, TP, phân tích biến đổi cảnh quan, thay đổi lớp phủ bề mặt/ sử dụng đất.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu phục vụ cho quy hoạch KGX dựa vào các chỉ số cảnh quan của tác giả Maimaitiyiming M. (2014), quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt và KGX của tác giả Jun Y. Uy và Nagakoshi (2007) đã nghiên cứu cách thức phát triển KGX ở các đô thị dựa vào mạng lƣới sinh thái tự nhiên và thể hiện việc sử dụng nó đối với TP. Hà Nội, Việt Nam.
Những cách tiếp cận này là một trong những thông tin hữu ích cho các nhà quy hoạch trong quá trình lập kế hoạch MT và xã hội phát triển KGX cho một khu vực nghiên cứu thích ứng với biến đổi khí hậu [9]. Hai tác giả Teimouri R, Yigitcanlar T (2018) đã tiếp cận quy hoạch ĐTST dựa vào phân tích định lƣợng đặc điểm KGX đô thị. Trong đó, nhóm tác giả đã xác định sự mất mát hoặc suy giảm KGX có thể ảnh hƣởng đến MT sống của sinh vật, giảm đa dạng sinh học và phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái đô thị. Việc tiếp cận đô thị bền vững là mục tiêu của các TP trên thế giới giúp giải quyết hài hòa các lợi ích KT và MT một cách bền vững, đảm bảo chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân, khai thác hiệu quả tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học [6].
Đặc biệt, trong xu thế hiện nay, ý tƣởng nghiên cứu KGX trên cơ sở phân tích cảnh quan đa chức năng, nhằm xây dựng một hệ thống KGX hƣớng đến làm thoả mãn các nhu cầu cấp bách của một đô thị, TP nhằm tăng cƣờng độ che phủ một cách khoa học và hợp lý đang đƣợc nhiều nhà quy hoạch, địa lí và MT tập trung nghiên cứu. Việc áp các quy luật của cảnh quan vào việc phân tích hệ thống không gian, đã mô tả những đặc tính của cảnh quan nhƣ sự phân bố không gian, diện tích, mật độ, và hình dạng. Đồng thời, ứng dụng các quy tắc sinh thái học cảnh quan cho 11 phép các nhà nghiên cứu đề xuất cải thiện hệ thống KGX trên nhiều phƣơng diện: (1) Ở cấp độ vùng, xác lập những hành lang bảo tồn các vùng ngoại ô khỏi sự xâm lấn của đô thị hoá; (2) Ở cấp độ trung tâm đô thị, thiết lập các hệ thống KGX cho toàn bộ đô thị nhằm giải quyết những vấn đề MT tránh khỏi những tác động của biến đổi khí hậu. Trong sự tƣơng quan giữa cấu trúc đô thị và KGX đƣợc xây dựng, KGX này đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí trong giới hạn cho phép của MT đô thị và cung cấp một MT sống có thể cho các loài sinh vật trong MT bán tự nhiên; (3) Ở góc độ hình thành cảnh quan tự nhiên trong khu dân cƣ, quan tâm đến những KGX cụ thể và chi tiết hơn mang lại cảm giác chạm vào thiên nhiên qua cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con ngƣời.
Bởi tất cả kết nối với nhau và cùng với những công viên đã tồn tại cũng nhƣ đang quy hoạch nhằm tạo ra một hệ thống chặt chẽ để mở ra một không gian khu vực chất lƣợng cao. Đồng thời, trong giai đoạn gần đây, để nghiên cứu biến động KGX một cách định lƣợng và khoa học, nhiều tác giả đã áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu chỉ số trắc lƣợng cảnh quan trong đánh giá tính phân mảnh KGX. Các trƣờng phái nghiên cứu về cảnh quan đều có cách tiếp cận chung là xem xét một cách tổng hợp và dựa trên cấu trúc không gian của các yếu tố cảnh quan nhƣ ranh giới, hình dạng, tính đồng nhất, số lƣợng, đặc điểm phân bố không gian cảnh quan. Những kết quả này đều có tính ứng dụng cao trong công tác quy hoạch lãnh thổ ở các quy mô khác nhau.
Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan giúp nhìn nhận bức tranh tổng thể về hệ thống biến đổi lớp phủ bề mặt và mối quan hệ giữa lớp phủ với quá trình ĐTH. Sự thay đổi mô hình cảnh quan đƣợc đo lƣờng định lƣợng bằng cách sử dụng các chỉ số cảnh quan. Những kết quả nghiên cứu này giúp các nhà quy hoạch thấy rõ hơn mối quan hệ giữa biến đổi cảnh quan và hậu quả sinh thái của quá trình ĐTH. Ngoài ra, kết quả này còn cho phép giải thích các đặc tính của biến đổi cảnh quan về hình dạng, sự phân bố, sự phân mảnh của các khoanh vi trong cảnh quan từ đó có cơ sở phát triển đô thị, định hƣớng đô thị theo hƣớng bền vững.
Hiện nay các trƣờng phái cảnh quan Tây Âu và Bắc Mỹ đã sử dụng chỉ số trắc lƣợng cảnh quan để đo lƣờng định lƣợng đánh giá các thay đổi mô hình cảnh quan. Kết quả từ cách tiếp cận này cho phép hiểu rõ mối quan hệ giữa biến đổi cảnh quan và các quá trình phát triển 12 TP.