Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Bối cảnh nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp.
13 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung Chương 2 sẽ làm rõ định nghĩa thế nào là chất lượng cuộc sống và trình bày một số khái niệm liên quan đến chất lượng cuộc sống, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Trên cơ sở đó rút ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân tại các dự án tái định cư. Một số khái niệm 2. Khái niệm về cộng đồng Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000), trích từ Đặng Thị Kim Đang (2013), Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên.
Theo Willmott (1986), trích từ Đặng Thị Kim Đang (2013), Cộng đồng tạo nên bởi 3 yếu tố quan trọng là lãnh thổ, mối quan tâm chung (về tôn giáo, nghề nghiệp, quyền lợi, chủng tộc, văn hóa, trình độ, .) và sự gắn bó với nhau. Khái niệm về sự hài lòng Theo Kotler (2004), trích từ Đặng Thị Kim Đang (2013), Sự hài lòng là trạng thái của con người bắt nguồn tự việc so sánh kết quả cảm nhận được giữa sản phẩm này với sản phẩm khác hay dịch vụ này với dịch vụ khác so với kỳ vọng người đó. Kết quả so sánh một sản phẩm hay một dịch vụ tốt hơn kỳ vọng thì đó là sự hài lòng. Theo Oliver (2010), trích từ Đặng Thị Kim Đang (2013), Sự hài lòng là phản ứng thể hiện cảm xúc hay sự thích thú của khách hàng đối với tính năng của sản phẩm hay dịch vụ mang lại.
Theo Trương Tấn Tâm (2012), Sự thỏa mãn, niềm hạnh phúc hay sự hài lòng là những nhân tố trọng tâm trong đánh giá chất lượng cuộc sống, chúng ta không nên xem chúng như là sự khẳng định mang tính chất nhất thời về niềm hạnh phúc hay sự hài lòng, ta nên xem chúng là kết quả sau cùng trong sự cảm giác của niềm hạnh phúc. Khái niệm di cư Theo Harley (1994), trích từ Nguyễn Quang Đại (2012), Di cư là hiện tượng con người dịch chuyển/ chỗ ở từ nơi này đến nơi khác với khoảng cách đủ lớn buộc người di cư phải thay đổi hộ khẩu thường trú: Chuyển đến một khu vực khác, một thành phố khác, một tỉnh hay một nước khác. Theo Liên Hiệp Quốc (1958), trích từ Trương Tấn Tâm (2012), Di cư là hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định. Di cư được hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.
Hiểu theo nghĩa hẹp di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định (Đinh Văn Thông, 2010). Di cư bao gồm 02 quá trình: Xuất cư và nhập cư. + Nơi xuất cư hay còn gọi là nơi đưa dân đi (đầu đi): Là địa phương có dân đưa đến các vùng thuộc các tỉnh khác, hoặc trong phạm vi của tỉnh. Người dân đi từ địa phương này gọi là xuất cư.
+ Nơi nhập cư hay còn gọi là nơi đón dân (đầu đến): Là địa phương có dân đến định cư theo chương trình. Người dân định cư ở vùng mới gọi là dân nhập cư. Các loại hình di cư: Việc phân chia di cư thành các hình thức khác nhau tùy thuộc mục đích, phạm vi di cư theo lãnh thổ, mô hình tổ chức và quyết định di cư. Trong thực tế các hình thức di cư có quan hệ và tác động lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện trong những điều kiện cụ thể.
Do vậy, sự phân loại di cư chỉ mang tính chất tương đối. - Theo độ dài thời gian cư trú: Di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư chuyển tiếp. + Di cư lâu dài: Gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi làm việc đến nơi ở mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác đến nơi khác xa nơi ở cũ, những người tìm cơ hội mới di 15 chuyển đến những nơi có điều kiện xã hội tốt hơn, có thể tìm kiếm việc làm và cuộc sống mới. + Di cư tạm thời: Là sự thay đổi nơi ở cũ lâu dài và đến một lúc nào đó sẽ quay trở lại nơi ở cũ, di cư này thường là sự di chuyển theo mùa vụ hoặc theo thời gian.
+ Di cư chuyển tiếp: Là sự di cư mà đích đến sẽ là một nơi khác tiếp theo chứ không phải là nơi vừa mới tới. - Theo không gian: Có thể hình thành các loại di cư trong một vùng hoặc gần nhau giữa nơi đi và nơi đến, di cư giữa các nước thì gọi là di cư quốc tế; di cư trong nước hoặc nội vùng thì gọi là di cư nội địa. - Theo hình thức tổ chức: + Di cư có tổ chức (di cư theo kế hoạch của Nhà nước): Sự di chuyển này được thực hiện theo các chương trình, mục tiêu của Nhà nước vạch ra và trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Hình thức này được sự hỗ trợ và giúp đỡ cần thiết từ Nhà nước để ổn định đời sống, kinh tế - xã hội của cộng đồng di cư cả ở nơi đi và nơi đến, hình thức này thường là di cư đến vùng kinh tế mới, bảo vệ an ninh quốc phòng hoặc di cư để thực hiện các dự án của Nhà nước.
+ Di cư không có tổ chức: Di cư tự do và di cư bất hợp pháp. Di cư tự do: Theo Thông tư số 05/NN/ĐCĐC-KTM ngày 26/3/1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định “Di cư tự do là đồng bào chuyển cư ngoài kế hoạch di dân hàng năm của Nhà nước”, có nhiều quan điểm khác nhau nhưng phổ biến nhất được các nhà nghiên cứu công nhận là di cư tự do cũng có đủ các tiêu chí như di cư nhưng trong trường hợp này một cá nhân, một gia đình, một nhóm người tự quyết định hành vi đi hay ở mà không chịu sự tác động từ phía Nhà nước hoặc bên ngoài. Có thể hiểu di cư tự do là sự di chuyển đến nơi ở mới hoàn toàn do người dân tự quyết định, bao gồm việc lựa chọn nơi đến, họ tự tổ chức di chuyển, tự lo các khoản kinh phí, tự tạo cuộc sống mới tại nơi đến trên cơ sở thực hiện một số thủ tục đối với chính quyền tại nơi chuyển đến. Ngoài ra, nó còn thể hiện sức hút của nơi đến và lực đẩy của nơi đi.
16 Di cư bất hợp pháp: Là sự di chuyển đến nơi cư trú mới có đặc điểm gần giống di cư tự do nhưng người đi bỏ qua sự kiểm soát và không trình diện với chính quyền địa phương nơi đến. Hình thức này thường gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường đến. - Theo ranh giới hành chính của lãnh thổ: + Di cư quốc tế là hình thức di cư ra khỏi biên giới của một quốc gia, từ nước này sang nước khác, trong đó gồm các dòng di chuyển của dân tị nạn, hợp tác và xuất khẩu lao động, di cư thuộc địa. + Di cư trong nước là di cư giữa các vùng trong nội bộ của một quốc gia.
Tùy thuộc vào mục đích và cấp hành chính mà có thể thống kê di cư theo từng cấp khác nhau như di cư nội vùng, ngoại vùng; di cư nội tỉnh, ngoại tỉnh; di cư nội và ngoại huyện. Ở đa số các nước, việc thống kê di cư trong nước chỉ xét đến đơn vị hành chính cấp tỉnh. - Theo hướng di dân nông thôn – thành thị: + Di dân nông thôn – nông thôn. + Di dân nông thôn – thành thị.
+ Di dân thành thị - nông thôn. + Di dân thành thị - thành thị. Khái niệm tái định cư Võ Kim Cương (2007), trích từ Nguyễn Quang Đại (2012), Tái định cư là việc di chuyển và thay đổi cuộc sống của con người, không chỉ đơn giản là quá trình dịch chuyển vật chất mà còn là quá trình cắt bỏ các quan hệ cũ và tạo lập các quan hệ mới, việc này gần giống như việc bứng cây trồng vào chỗ mới. Tái định cư thường là di dời tái định cư các căn hộ, nghĩa là bên cạnh sự ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình còn có sự ràng buộc giữa mỗi người trong đó với môi trường xã hội xung quanh.
Các mối quan hệ chính là: công việc làm ăn, chỗ ở, nơi học hành, điều kiện đi lại và sự tiếp cận các dịch vụ đô thị, quan hệ láng giềng. Theo Ngân hàng thế giới (2004), trích từ Trương Tấn Tâm (2012), Tái định cư là thuật ngữ chung liên quan tới việc thu hồi đất và bồi thường cho tổn thất về tài sản khi 17 có di dời, tổn thất đất, nhà ở, tài sản hoặc phương tiện sinh kế khác. Ngân hàng thế giới phân tái định cư gồm 2 dạng là tái định cư tự nguyện và tái định cư không tự nguyện hay còn gọi là tái định cư bắt buộc. Tái định cư tự nguyện là do nhu cầu cuộc sống người dân tự nguyện di chuyển từ nơi ở này sang nơi ở khác.
Tái định cư bắt buộc là khi một dự án phát triển dẫn đến hoặc gây ra những ảnh hưởng do thu hồi đất và việc phải tái định cư là không thể tránh khỏi, trong đó những người ảnh hưởng không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tái xây dựng cuộc sống, thu nhập và các tài sản của họ ở một nơi khác. Khái niệm về chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm khá rộng được thảo luận và bàn cãi nhiều, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào trình độ phát triển, quan niệm văn hóa xã hội, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.