Phần mở đầu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm, các cơ sở lý thuyết có liên quan: dự án, các bên liên quan đến dự án, cơ sở hạ tầng - hạ tầng kỹ thuật - cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ, hẻm trong khu dân cƣ, vỉa hè; sự tham gia - sự tham gia của xã hội, các mối quan hệ của những yếu tố ảnh hƣởng đến sự tham gia của ngƣời dân, một vài nghiên cứu trƣớc; đề xuất mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết. Phƣơng pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và phƣơng pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu 7 Trình bày kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo; phân tích khám phá các nhân tố; kết quả hồi quy tuyến tính để khẳng định mối quan hệ giữa các biến; phân tích thực trạng của các yếu tố tác động đến sự tham gia của ngƣời dân.
Khuyến nghị các giải pháp Trình bày tóm tắt kết quả của nghiên cứu; các đóng góp của nghiên cứu về học thuật và thực tế; trình bày các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của ngƣời dân và các hạn chế cũng nhƣ hƣớng nghiên cứu mới của đề tài. 8 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Dự án Theo từ điển tiếng Anh Oxford, “Dự án là một phần của công việc hoặc là bất kỳ hoạt động đã đƣợc lên kế hoạch một cách cẩn thận, đƣợc thiết kế và tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu xác định”. Tiêu chuẩn của Australia (AS 1379 - 1991) chỉ ra, “Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết đƣợc, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau”.
Định nghĩa của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000 : 2005, thể hiện Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và đƣợc kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, đƣợc tiến hành để đạt đƣợc một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Nhƣ vậy, có thể nói: Dự án là một chuỗi hoạt động đƣợc đặt trong một quá trình đơn nhất, có giới hạn về các nguồn lực và thời gian, đƣợc lên kế hoạch cẩn thận nhằm đạt đƣợc một mục tiêu xác định. Đặc điểm của dự án: Dự án trên thực tế là sự đáp ứng một nhu cầu, là giải pháp cho một vấn đề cụ thể; Dự án bị khống chế bởi kỳ hạn bởi lẽ bất kỳ một sự cố trễ hạn nào dù dài hay ngắn cũng điều kéo theo một chuỗi nhiều biến cố bất lợi nhƣ: bội chi ngân sách, khó tổ chức lại nguồn lực, tiến độ cung ứng vật tƣ, thiết bị và tất nhiên nhu cầu về chất lƣợng sản phẩm cũng không đƣợc đáp ứng, thời điểm bàn giao công trình. nhƣ dự kiến; Dự án là công việc duy nhất, một lần.
Đặc tính này giúp phân biệt dự án với các hoạt động bình thƣờng bởi những hoạt động thì có thể lặp đi lặp lại; Dự án thƣờng bị ràng buộc về mặt nguồn lực bởi nó có ảnh hƣởng đến mức độ thành công và hiệu quả của dự án; Dự án luôn tồn tại trong môi trƣờng không chắc chắn, do đó việc phân tích, ƣớc lƣợng các rủi ro, chọn lựa giải pháp cho tƣơng lai, dự kiến các trƣờng hợp phòng thủ là cần thiết để bảo đảm tính thành công của dự án. Một chính sách khả thi và có ý nghĩa phải dựa trên mong 9 muốn của ngƣời dân sinh sống tại nơi mà nó thực hiện bởi mục đích của nó là cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân địa phƣơng; Cơ sở của lập luận này chính là ngƣời dân sẽ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình, phƣơng tiện phát triển là tài nguyên đƣợc chính ngƣời dân quản lý và sử dụng; Kỹ năng, kiến thức và năng lực của cộng đồng là nguồn lực để phát triển; Trên hết, sự cam kết của ngƣời dân là yếu tố sống còn của phát triển bởi nếu một kế hoạch hoặc dự án không đƣợc cộng đồng ủng hộ thì rất khó đƣợc thực hiện (Dower và Michael, 1996). Để tăng hiệu quả của các dự án và phát huy tốt vai trò của cộng đồng, ngƣời dân cần tham gia vào tất cả các giai đoạn thực hiện một dự án với tƣ cách là đối tƣợng hƣởng lợi và cũng là ngƣời chủ thực sự. Sự tham gia đƣợc thể hiện từ việc xác định vấn đề và nhu cầu cần giải quyết của địa phƣơng, đƣa ra giải pháp và triển khai tổ chức thực hiện, đến kiểm tra, nghiệm thu công trình và đƣa vào sử dụng thành quả của dự án.
Quản lý, duy tu, sử dụng dự án 7. Kiểm tra - giám sát, đánh giá chất lượng - tiến độ 5. Tổ chức thực hiện thi công 4. Thẩm định, phê duyệt kế hoạch 3.
Lập kế hoạch có sự tham gia 2. Đưa ra giải pháp, chọn công trình 1. Xác định khó khăn, nhu cầu và vấn đề cần giải quyết Hình 2.1: Trình tự một dự án có sự tham gia của cộng đồng Nguồn: Ủy ban dân tộc, 2008. Các bên liên quan đến dự án Một dự án thực hiện có nhiều đối tƣợng tham gia và mỗi đối tƣợng có ảnh hƣởng, vai trò, vị trí, quyền cũng nhƣ nghĩa vụ nhất định.
Để dự án đảm bảo thành công, cần có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ và hợp tác giữa các bên liên quan. Các bên liên quan gồm có: Khách hàng, ngƣời đƣợc ủy quyền - ngƣời tiếp nhận dự án, bên cung ứng, các tổ chức tài trợ vốn, các cơ quan quản lý Nhà nƣớc liên quan đến dự án, nhƣ: 10 Khách Hàng Các cơ quan Ngƣời quản lý Nhà đƣợc ủy nƣớc liên quyền quan Các bên liên quan đến dự án Các tổ Bên chức tài cung trợ vốn ứng Hình 2.2: Những bên liên quan đến dự án Nguồn: Trịnh Thùy Anh, 2008. Khách hàng: Khách hàng ở đây chính là nhà đầu tƣ. Cần phải phân biệt khách hàng của dự án - là ngƣời đặt hàng xây dựng, thực hiện, quản lý một dự án; và khách hàng của sản phẩm dự án - tức là đối tƣợng sử dụng các sản phẩm do dự án tạo ra.
Khách hàng có thể là một ngƣời hay một tổ chức hoặc một tập thể đƣợc ủy quyền trong trƣờng hợp dự án cấp vốn từ nguồn ngân sách Nhà nƣớc. Khách hàng cần đƣợc xác định ngay từ khi có ý định đầu tƣ. Các yêu cầu và đòi hỏi của khách hàng sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến quy mô, đặc tính kỹ thuật, công nghệ của dự án. Khách hàng chính là ngƣời đƣa ra các yêu cầu cuối cùng về kết quả dự án và cũng là ngƣời cung cấp vốn hoặc trả tiền để thực hiện hoặc khai thác dự án (Trịnh Thùy Anh, 2008).
Người được ủy quyền: Ngƣời đƣợc ủy quyền là ngƣời tiếp nhận dự án và để thực hiện dự án nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Sau khi tiếp nhận dự án, bên đƣợc ủy quyền căn cứ vào yêu cầu, nhu cầu của khách hàng để bắt đầu thực hiện dự án. Trong suốt quá trình quản trị dự án từ giai đoạn bắt đầu, lập kế hoạch, thực hiện và kết thúc, ngƣời đƣợc ủy quyền luôn giữ vai trò chủ đạo. Vì thế, tố chất, năng lực của ngƣời đƣợc ủy quyền sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng dự án (Trịnh Thùy Anh, 2008).
Tổ chức tài trợ vốn: Tổ chức tài trợ vốn bao gồm: ngân hàng, quỹ tín dụng, các định chế tài chính, quỹ đầu tƣ phát triển, bảo hiểm, đóng góp của ngƣời dân… (Trịnh Thùy Anh, 2008) 11 Cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến dự án: Để đảm bảo dự án có mục đích, thống nhất trong quá trình đầu tƣ, phù hợp với quy mô, với sự phát triển của đất nƣớc, mang ý nghĩa kinh tế xã hội thiết thực, đồng thời đảm bảo việc đầu tƣ đƣợc quản lý và giám sát toàn diện và có khoa học, cần có sự quản lý của Nhà nƣớc, mà đại diện là các cơ quan quản lý Nhà nƣớc (Trịnh Thùy Anh, 2008). Từ khái niệm của các bên liên quan, ngƣời dân là một trong những bên liên quan đến dự án. Ngƣời dân vừa đóng vai trò là: khách hàng của sản phẩm dự án (tức là đối tƣợng sử dụng các sản phẩm do dự án tạo ra), là ngƣời thụ hƣởng, vừa là nhà tài trợ, nhà giám sát dự án. Cơ sở hạ tầng - hạ tầng kỹ thuật - hạ tầng giao thông đƣờng bộ Cơ sở hạ tầng - hạ tầng kỹ thuật: Cơ sở hạ tầng bao gồm cơ sở vật chất cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một khu vực.
Có thể chia cơ sở hạ tầng làm 03 hệ thống: hạ tầng sản xuất, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; Hạ tầng kỹ thuật bao gồm các công trình giao thông vận tải hàng hóa và hành khách (gồm đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy, đƣờng hàng không, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật cho giao thông), hệ thống cung cấp năng lƣợng cho sản xuất và tiêu dùng (điện, xăng dầu, khí đất, nƣớc…), hệ thống chiếu sáng công cộng, hệ thống thu gom và xử lý rác, hệ thống cấp và thoát nƣớc mƣa và hệ thống kỹ thuật - thông tin, bƣu chính - viễn thông. Có thể nói cơ sở hạ tầng kỹ thuật là hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản, cố định có tính chất nền tảng của một quốc gia nhƣ đƣờng xá, đƣờng sắt, nhà ga, bến cảng kho bãi, phi trƣờng, mạng cấp thoát nƣớc, điện, mạng viễn thông (Từ điển tiếng Anh, Oxford).