CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NƯỚC 1. Các khái niệm về môi trường và quản lý môi trường 1. Khái niệm về quản lý môi trường Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. * Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm: Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người.
Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư.
- Bản chất hệ thống của môi trường: Dưới góc độ của khoa học công nghệ - kỹ thuật, môi trường cần được hiểu như là một hệ thống. Nói cách khác, môi trường mang đấy đủ những đặc trưng của hệ thống. - Những đặc trưng cơ bản của hệ thống môi trưòng + Tính cơ cấu (cấu trúc) phức tạp: Cơ cấu của hệ môi trường được thể hiện chủ yếu ở cơ cấu chức năng và cơ cấu bậc thang. Dù theo chức năng hay theo bậc thang, các phần tử cơ cấu của hệ môi truờng thường xuyên tác động lẫn nhau, quy định và phụ thuộc lẫn nhau.
+ Tính động: Hệ môi trưòng không phải là một hệ tĩnh mà nó luôn luôn thay đổi trong cấu trúc của nó, trong quan hệ tương tác giữa các phần tử cơ cấu 2 và trong từng phần tử cơ cấu. Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ đều làm cho nó lệch khỏi trạng thái cân bằng trước đó và hệ lại có xu hướng lập lại thế cân bằng mới. Đó là bản chất của quá trình vận động và phát triển của hệ môi trường. Vì thế cân bằng động là một đặc tính cơ bản của môi trường với tư cách là một hệ thống.
+ Tính mở: Môi trường dù với quy mô lớn, nhỏ như thế nào cũng đều là một hệ thống mở. Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy” trong không gian và thời gian. Vì thế, các vấn đề về môi trường mang tính vùng, tính toàn cầu, tinh lâu dài và cần được giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa, trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau. + Khả năng tự tổ chức và tự điều chỉnh: Đặc tính cơ bản này của hệ môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi can thiệp của con người đồng thời tạo mở hướng giải quyết cơ bản lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay (tạo khả năng tự phục hồi của các tài nguyên sinh vật đã suy kiệt, xây dựng các hồ chứa và các vành đai cây xanh, môi trương thuỷ và hải sản…) - Phân loại môi trường: Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, tồn tại nhiều cách phân loại môi trương.
Về đại thể có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng sau + Theo chức năng (thành phần) + Theo quy mô + Theo mức độ can thiệp của con nguời + Theo mục đích nghiên cứu và sử dụng 1. Sự cần thiết của quản lý môi trường Vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường nước ở nước ta hiện nay đang là vấn đề cấp thiết, xuất phát từ các vấn đề sau Thứ nhất: Sự xuống cấp của môi trường do hậu quả của sự phát triển kinh tế đặt ra yêu cầu quản lý môi trưòng. 3 Là một nước đang phát triển, Việt Nam đang trên con đường xây dựng phát triển, đòi hỏi sử dụng ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên, các chất thải trong sản xuất cũng ngày càng tăng lên, đã đang và sẽ làm nhiễm bẩn môi trường không khí, đất, nước, làm cho môi trường sống của con người ngày xấu đi, nhất là ở một số vùng mỏ và khu công nghiệp tập trung, gây sức ép đối với môi trường sống, sức khoả của cộng đồng và tài nguyên sinh vật. Mặc dù nền kinh tế chưa phát triển, song tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động của ngành gây ra (công - nông – lâm - ngư - giao thông vận tải – dịch vụ) cũng không kém phần nghiêm trọng.
Đặc biệt tình trạng ô nhiễm cục bộ ở các khu công nghiệp và các đô thị đã thể hiện rõ hơn, nhất là ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường do đất xói mòn. Hiện nay nước ta đang phải đương đầu với những vấn đề môi trường nghiêm trọng như nạn phá rừng và xói mòn đất, khai thác quá mức tài nguyên khoáng sản, đe doạ đến cảnh quan môi trường, các hệ sinh thái. Thứ hai: Quản lý và sử dụng tốt hơn tài nguyên môi trường. Cần phải nhận thức rằng, vấn đề bảo vệ môi truờng ở Việt Nam thực chất là vấn đề và khoa học các nguồn tài nguyên -thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên và tiềm năng lao động gắn bó chặt chẽ và chủ động trong mọi quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Đó là một trong những đường lối có tính chiến lược. Thứ ba: Sự gia tăng dân số đặt ra vấn đề quản lý môi trường. Mức tăng dân số là sức ép năng nề tới môi trường lớn nhất nước ta. Mật độ dân số trung bình của nước ta là 254/km2, thuộc loại cao trên thế giới.
Tốc độ tăng dân số nhanh, trong khi diện tích đất canh tác không tăng, làm cho bình quân diện tích đất canh tác theo đầu người rất thấp (thấp nhất khu vực Đông Nam Á) và lại xu hướng giảm dần. Diện tích rừng phá hàng năm (20 vạn ha) làm cho diện tích rừng càng giảm. Tàn phá thảm thực vật rừng còn phá huỷ cả các 4 nguồn gen quý giá của các động vật hoang dã, phá huỷ đất rừng, làm cạn nguồn nước ngầm và nước mặt làm cho nhiều vùng trở thành hoang mạc. Dân số tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước ta đã làm gia tăng những khối lượng khổng lồ các chất phế thải vào môi trường sống, làm ô nhiễm năng nề đất canh tác, ô nhiễm nguồn nước và không khí.
Nội dung quản lý nhà nước về môi trường Nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam là sự tác động của Nhà nước về môi trường, bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm sự cố môi trường. - Xây dựng quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan bảo vệ môi trường. - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật và hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng môi trường. - Tổ chức, xây dựng quản lý hệ thống quan trắc định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường.
- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các cơ sở sản xuất- kinh doanh và các dự án phát triển. - Cấp, thu hồi giấy chứng nhận hợp chuẩn môi trường. - Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường, sử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. - Đào tạo cán bộ về môi trường, giáo dục, tuyên truyền phổ biến kiến thức về khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Hợp tác khoa học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 5 - Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng môi trường. Tất cả những vấn đề trên là nội dung tổng quát của quản lý môi trường nói chung, điều quan trọng đặt ra là tuỳ theo tính chất của môi trường hiện tại và yêu cầu của quản lý môi trường để các nhà quản lý môi trường nhấn mạnh các nội dung quản lý cụ thể thông qua các công cụ quản lý môi trường.
Các công cụ quản lý môi trường a. Chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường Chính sách bảo vệ môi trường là công cụ chỉ đạo toàn bộ hoạt động bảo vệ môi trường trên một phạm vi lãnh thổ rộng lớn như một tỉnh, một quốc gia trong thời gian 10 -20 năm trở lên. Chính sách phải nêu lên mục tiêu và các định hướng lớn để thực hiện mục tiêu. Chính sách phải hợp lý có cơ sở vững chắc về khoa học và thực tiễn.
Chiến lược cụ thể hoá chính sách bảo vệ môi trường ở một mức độ nhất định. Chiến lược xem xét mối quan hệ giữa các mục tiêu do chính sách xác định và nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó, trên cơ sở ấy lựa chọn các mục tiêu khả thi, xác định các phương hướng biện pháp thực hiện mục tiêu. Luật pháp quy định về bảo vệ môi trường Thông thường hệ thống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia bao gồm hai thành phần chính là luật chung và luật về sử dụng hợp lý các thành phần môi trường cụ thể ở một địa phương. Luật chung gọi là luật bảo vệ môi trường.
Còn luật biểu, rừng, đất đai, tài nguyên khoáng sản… là luật về các thành phần môi trường. Quy định là những văn bản dưới luật, nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫn thực hiện các nội dung của luật. Quy định có thể do chính phủ trung ương hay địa phương, do cơ quan hành pháp hay luật pháp ban hành. Chế định là các quy định về chế độ, thể lệ, tổ chức quản lý bảo vệ môi trường, chẳng hạn quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan bộ, sở kế hoạch, công nghiệp, môi trường của Việt Nam.
Kế hoạch môi trưòng Bảo vệ môi trường là công tác có quy mô lãnh thổ lớn, thời gian dài, quan hệ đén nhiều ngành, nhiều người thuộc nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, vì vậy chỉ có thể thực hiện tốt khi tiến hành kế hoạch hoá.