Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020" tập trung giải quyết yêu cầu thực tiễn và lý luận về phát triển kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Theo tác giả, ĐBSCL là trung tâm sản xuất, xuất khẩu nông sản, thủy hải sản và cây ăn trái lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của vùng giai đoạn vừa qua bộc lộ nhiều hạn chế: tăng trưởng xuất khẩu thiếu ổn định, dễ bị tổn thương trước biến động thị trường; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; sản phẩm chủ lực ít, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng chưa cao; liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng và giữa vùng với cả nước còn rời rạc; phát triển chủ yếu theo chiều rộng và số lượng. Nguyên nhân căn bản được xác định là thiếu vắng các sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao và đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt kinh tế vùng. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào xây dựng hệ thống cơ sở khoa học, tiêu chí định lượng và quy trình thống nhất để nhận diện, xét chọn và phát triển sản phẩm chủ lực ở quy mô toàn vùng ĐBSCL.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung:
- Xây dựng hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực phù hợp với điều kiện thực tế và tính đặc thù của ĐBSCL làm cơ sở đánh giá, xét chọn thống nhất cho toàn vùng.
- Xây dựng Danh mục các sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL đến năm 2020.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững sản phẩm chủ lực ĐBSCL trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 4 nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn trong đánh giá, xét chọn, phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020.
- Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng, lợi thế và năng lực cạnh tranh của sản phẩm ĐBSCL để xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng đến năm 2020.
- Dựa trên Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá để xác định danh mục hàng hóa, dịch vụ đủ điều kiện hoặc có triển vọng trở thành sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020.
- Đánh giá thành tựu và hạn chế trong thực tế xét chọn, phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua nhằm đề xuất các giải pháp phát triển bền vững sản phẩm chủ lực của vùng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chủ lực mang tính đặc trưng cho tiềm năng, lợi thế của ĐBSCL, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế vùng và các giải pháp phát triển sản phẩm chủ lực đến năm 2020.
- Phạm vi hàng hóa, dịch vụ: Các loại hàng hóa, dịch vụ đã, đang và có triển vọng tham gia thị trường, giữ vai trò chủ lực trong chiến lược phát triển kinh tế ĐBSCL đến năm 2020.
- Phạm vi địa bàn: 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Cần Thơ), đồng thời mở rộng nghiên cứu thị trường tiêu thụ tại các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng giai đoạn 2006–2010 và định hướng giải pháp đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu trong luận án được phân chia thành nhóm tài liệu quốc tế và nhóm tài liệu trong nước liên quan đến lý thuyết cạnh tranh, cụm phát triển và thực tiễn phát triển sản phẩm chủ lực.
Tài liệu quốc tế:
- Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael E. Porter (1990): Luận án tiếp thu luận điểm sự thịnh vượng của một quốc gia/địa phương được tạo ra từ việc nâng cao năng suất và tạo ra giá trị khác biệt chứ không đơn thuần kế thừa tài nguyên sẵn có.
- Lý thuyết cụm phát triển của Michael E. Porter (1990) và Christian H. Ketels (2003): Nghiên cứu khung khái niệm về cụm ngành (cluster), sự tiến hóa của cụm và vai trò của liên kết địa lý giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp, tổ chức hỗ trợ đối với năng lực cạnh tranh của ngành và vùng kinh tế.
- Lý thuyết điểm trung tâm của Walter Christaller (1933) và bổ sung của August Lösch: Nghiên cứu quy luật phân bố không gian và bán kính vùng tiêu thụ sản phẩm của các trung tâm đô thị đối với vùng phụ cận nông thôn.
- Nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh của G. Arzu Inal: Cung cấp hệ thống 16 chỉ số định lượng đo lường năng lực cạnh tranh của quốc gia, vùng lãnh thổ và sản phẩm.
- Các nghiên cứu chuyên đề khác: Jon Sigurdson (2004) với nghiên cứu hệ thống đổi mới vùng tại Trung Quốc ("Regional Innovation Systems in China") và các tài liệu phân tích chiến lược nông nghiệp của Ấn Độ ("Sustaining the Green Revolution in India").
Tài liệu trong nước:
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Lĩnh (2007) về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản vùng Bắc Trung Bộ: Vận dụng mô hình kim cương của Michael E. Porter để phân tích các yếu tố ảnh hưởng và xác định ngành chế biến chủ lực.
- Văn bản và chương trình quản lý nhà nước:
- "Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020" của Chính phủ (Quyết định số 244/QĐ-TTg).
- Quyết định số 21/2001/QĐ-BKHCNMT của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về chương trình khoa học công nghệ trọng điểm "Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực".
- "Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực TP. Hà Nội" (Quyết định số 03/2006/QĐ-UB).
- "Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2002–2005" (Quyết định số 153/2002/QĐ-UB).
- "Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006–2010" (Quyết định số 955/QĐ-UBND).
- Các nghiên cứu học thuật: GS.TS Võ Thanh Thu về đặc trưng sản phẩm chủ lực (tính lan tỏa, hàm lượng chất xám, sản phẩm vô hình và hữu hình); TS Lê Tấn Bửu về vai trò của công nghiệp chế biến nông thủy sản ĐBSCL; các đề án xác định hàng hóa, dịch vụ chủ lực tại TP. Cần Thơ (2006–2010) và quận Bình Thủy (2011–2015).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các tài liệu trước đây chủ yếu tiếp cận sản phẩm chủ lực ở phạm vi một ngành hẹp (chủ yếu là công nghiệp) hoặc giới hạn trong ranh giới hành chính của từng tỉnh, thành phố riêng lẻ. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách xây dựng khung lý luận, bộ tiêu chí đánh giá kết hợp điều kiện cần và đủ, định tính và định lượng cho cả lĩnh vực hàng hóa (nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản) và dịch vụ trên phạm vi không gian toàn vùng kinh tế ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng hướng tiếp cận hỗn hợp, kết hợp khung lý thuyết kinh tế học cổ điển, lý thuyết cạnh tranh hiện đại với các công cụ phân tích định tính và định lượng.
Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng:
- Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1776, 'The Wealth of Nations'): Phân tích lợi thế chi phí sản xuất và chuyên môn hóa trong thương mại.
- Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1817): Giải thích sự khác biệt về năng suất lao động, chi phí cơ hội và cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa thô/chế biến.
- Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia và Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael E. Porter (1990):
- 4 yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh ngành: Điều kiện các yếu tố sản xuất; Điều kiện về cầu; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; Chiến lược, cấu trúc công ty và cạnh tranh nội địa.
- 2 yếu tố chi phối: Vai trò của Chính phủ và Yếu tố cơ hội (sự ngẫu nhiên).
- Thuyết cụm phát triển (Cluster Theory) của Michael E. Porter và Christian H. Ketels: Cơ sở phân tích mối liên kết địa lý, chuỗi giá trị và hiệu ứng lan tỏa của ngành sản phẩm chủ lực.
- Khung phát triển bền vững: Báo cáo Brundtland (WCED, 1987) và mô hình Triple Bottom Line (mối quan hệ giữa Con người – Xã hội, Tài nguyên – Môi trường, Lợi nhuận – Kinh tế).
- Lý thuyết điểm trung tâm của Walter Christaller và August Lösch: Xác định không gian kinh tế và bán kính thị trường tiêu thụ.
Phương pháp nghiên cứu định tính:
- Thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết và tiêu chí nhận diện sản phẩm chủ lực.
- Kỹ thuật thu thập dữ liệu: Khảo sát thực tế tại các địa phương thuộc ĐBSCL; thảo luận nhóm chuyên gia; phỏng vấn/thảo luận tay đôi với nhà quản lý và doanh nghiệp; quan sát thực địa.
Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy tuyến tính.
- Hệ thống chỉ số định lượng đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
- Hệ số lợi thế hiển thị ngành (Revealed Comparative Advantage - RCA).
- Hệ số thương mại ròng (Net Trade Ratio - NTR).
- Hệ số địa phương hóa (Location Quotient - LQ).
- Hệ số bảo hộ hiệu dụng (Effective Protection Rate - EPR).
- Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (Domestic Resource Cost - DRC).
Nguồn dữ liệu:
- Số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê giai đoạn 2006–2010.
- Số liệu báo cáo của các Bộ, ngành liên quan và Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL.
- Dữ liệu khảo sát từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học cho việc xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản phẩm chủ lực, khung tiêu chí, quy trình xác định và tổng kết kinh nghiệm quốc tế.
Tác giả đưa ra định nghĩa: "Sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ".
Năm đặc trưng cơ bản của sản phẩm chủ lực gồm:
- Sản phẩm có quy mô khối lượng lớn và tính đồng nhất cao.
- Sản phẩm có năng lực cạnh tranh quốc tế.
- Sản phẩm có sức lan tỏa mạnh (qua liên kết chuỗi giá trị và liên kết bổ trợ).
- Sản phẩm mang tính đặc thù của quốc gia, vùng lãnh thổ.
- Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường.
So sánh quan niệm về sản phẩm chủ lực:
| Tiêu chí so sánh |
Quan niệm trong Luận án |
Các quan niệm trước đây |
| Mục đích sản xuất |
Phục vụ trao đổi mua bán, đặc biệt là xuất khẩu quốc tế |
Chưa nêu rõ mục đích trao đổi thương mại quốc tế |
| Căn cứ xác định |
Dựa trên tiềm năng, lợi thế khách quan chung của vùng, miền |
Dựa trên điều kiện riêng của địa phương hoặc ý chí doanh nghiệp |
| Phạm vi ngành |
Bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản và dịch vụ |
Thường giới hạn trong công nghiệp hoặc nông nghiệp |
| Vai trò kinh tế |
Tạo giá trị sản lượng lớn và là trung tâm lan tỏa liên ngành |
Chú trọng giá trị sản lượng, tăng trưởng riêng lẻ của sản phẩm |
| Giá trị phi vật thể |
Mang giá trị kinh tế kết hợp giá trị văn hóa, nhân văn đặc thù |
Chủ yếu nhấn mạnh giá trị vật chất và giá trị kinh tế |
Ý nghĩa của việc xác định sản phẩm chủ lực:
- Nhận diện năng lực cạnh tranh cốt lõi để tập trung nguồn lực đầu tư có chiều sâu, tránh dàn trải.
- Xác định trung tâm lan tỏa nhằm kích thích phát triển các ngành phụ trợ và liên kết.
- Định vị nền kinh tế địa phương/vùng trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu.
- Xác định đúng đối tượng thị trường để chuẩn hóa hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Tiêu chí và quy trình xác định:
- Tiêu chí tiếp cận theo 2 nhóm: Tiêu chí cần (quy mô, tỷ trọng, đóng góp ngân sách, giải quyết lao động) và Tiêu chí đủ (nguồn lực hỗ trợ, chính sách, thương hiệu, công nghệ); kết hợp định lượng và định tính.
- Quy trình xác định gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị: Thành lập Ban chỉ đạo, Hội đồng chuyên ngành; xây dựng hệ thống tiêu chí, chính sách hỗ trợ và mẫu biểu.
- Giai đoạn thông tin và tiếp nhận đăng ký: Công bố chương trình; tiếp nhận và sàng lọc sản phẩm triển vọng, doanh nghiệp có năng lực.
- Giai đoạn tổ chức đánh giá, xét chọn: Hội đồng chuyên ngành chấm điểm theo 3 phương án (Phương án 1: Đạt chuẩn -> Công nhận; Phương án 2: Không đạt -> Loại bỏ; Phương án 3: Đạt điều kiện cần nhưng thiếu điều kiện đủ -> Chuyển sang bước hỗ trợ hoàn thiện trước khi đánh giá lại).
- Giai đoạn công nhận và tôn vinh: Ban chỉ đạo ra quyết nghị, UBND các tỉnh phê duyệt, công bố công nhận và áp dụng cơ chế hỗ trợ.
Kinh nghiệm quốc tế:
- Indonesia: Tái cơ cấu khu vực đồn điền, xóa bỏ độc quyền của Bulog trong lưu thông nông sản, áp dụng giá sàn bảo hộ nông dân, mở rộng tín dụng nông nghiệp từ 1,9 nghìn tỷ lên 3,4 nghìn tỷ Rupi, phát triển công nghiệp chế biến dầu cọ, cao su, cà phê.
- Philippines: Ban hành Luật Hiện đại hóa Nông ngư nghiệp (AFMA 1998), triển khai Dự án GMA (1999–2001), đầu tư 1/3 ngân sách nông nghiệp xây dựng vùng chuyên canh lúa Mindanao (chiếm 34% diện tích cả nước), phát triển chế biến dừa (90% sản lượng chế biến cùi dừa khô, 95% làm dầu ăn/dầu công nghiệp).
- Thái Lan: Triển khai các kế hoạch 5 năm (Kế hoạch lần thứ 9 giai đoạn 2002–2006 dành 124 tỷ Baht cải thiện nông nghiệp), quy hoạch vùng sản xuất tập trung (gạo sấy chiếm 30% lượng gạo xuất khẩu, sắn khô đạt 4 triệu tấn/năm, chế biến cao su qua quỹ ORRAF), áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000/EMS và phát triển trung tâm thực phẩm Hồi giáo tại tỉnh Pattani với 221 nhà máy.
Tác giả rút ra 6 bài học: (1) Xác định đúng sản phẩm để quy hoạch trọng tâm; (2) Phối hợp đồng bộ chính sách bảo hộ và hỗ trợ công nghệ, vốn; (3) Chú trọng lợi thế so sánh và quy hoạch vùng chuyên canh; (4) Đầu tư cơ sở hạ tầng và đổi mới công nghệ chế biến; (5) Đổi mới tiếp thị và phát triển chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ; (6) Nâng cao chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng xác định và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua
Chương 2 sử dụng mô hình Kim cương để phân tích các điều kiện sản xuất, tài nguyên, dân số, lao động và đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm chủ lực tại ĐBSCL.
Đặc điểm địa lý và tài nguyên:
- Diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 4,0 triệu ha (chiếm 12% diện tích cả nước), gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương.
- Cơ cấu sử dụng đất: 2,60 triệu ha đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản (chiếm 65,6%); 0,5 triệu ha đất lâm nghiệp (độ che phủ rừng 5%); 480.000 ha bãi triều (gần 300.000 ha có khả năng nuôi thủy sản nước lợ và mặn).
- 4 nhóm đất chính: Đất phù sa sông (1,2 triệu ha, phân bố ở trung tâm vùng); Đất phèn (1,6 triệu ha, phân bố tại Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, trung tâm bán đảo Cà Mau); Đất nhiễm mặn (0,75 triệu ha); Các loại đất khác (0,35 triệu ha).
Dân số và lao động:
- Năm 2010, dân số ĐBSCL đạt 17,272 triệu người (chiếm 19,87% cả nước), mật độ dân số 426 người/km² (cả nước là 263 người/km²).
- Dân số nông thôn chiếm 76,84% (13,272 triệu người). Dân số trong độ tuổi lao động là 10,129 triệu người (58,64% dân số).
Dân số và lao động ĐBSCL so với cả nước giai đoạn 2006–2010:
| Chỉ tiêu |
2006 |
2007 |
2008 |
2009 |
2010 |
| Cả nước |
|
|
|
|
|
| Tổng dân số (nghìn người) |
83.313,0 |
84.218,5 |
85.118,7 |
86.025,0 |
86.932,5 |
| Dân số nông thôn (nghìn người) |
60.703,3 |
60.999,2 |
61.287,1 |
61.564,2 |
60.710,1 |
| Tỷ lệ lao động có việc làm (%) |
51,9 |
53,7 |
54,6 |
55,5 |
56,4 |
| ĐBSCL |
|
|
|
|
|
| Tổng dân số (nghìn người) |
16.946,9 |
17.037,8 |
17.119,7 |
17.195,5 |
17.272,2 |
| Dân số nông thôn (nghìn người) |
13.791,2 |
13.708,4 |
13.562,3 |
13.412,5 |
13.271,9 |
| Dân số trong tuổi lao động (nghìn người) |
9.128,7 |
9.384,1 |
9.638,4 |
9.892,7 |
10.129,0 |
| Tỷ lệ lao động có việc làm (%) |
52,8 |
54,8 |
55,5 |
56,2 |
56,7 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2010
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo theo vùng lãnh thổ giai đoạn 2006–2010 (Đơn vị tính: %):
| Vùng lãnh thổ |
2006 |
2007 |
2008 |
2009 |
2010 |
| Cả nước |
12,5 |
13,6 |
14,3 |
14,8 |
14,6 |
| Trung du và miền núi phía Bắc |
16,3 |
17,8 |
18,1 |
20,9 |
20,7 |
| Đồng bằng sông Hồng |
10,1 |
11,0 |
12,2 |
13,2 |
13,3 |
| Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung |
11,0 |
12,0 |
13,1 |
13,5 |
12,7 |
| Tây Nguyên |
11,0 |
12,0 |
11,4 |
10,9 |
10,4 |
| Đông Nam Bộ |
19,6 |
21,4 |
22,5 |
19,6 |
19,5 |
| Đồng bằng sông Cửu Long |
7,2 |
7,9 |
7,8 |
7,9 |
7,9 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê 2010
Số liệu cho thấy chất lượng nguồn nhân lực ĐBSCL thấp nhất cả nước (năm 2010 chỉ đạt 7,9% lao động qua đào tạo so với mức bình quân 14,6% của cả nước). Điều này giới hạn năng lực ứng dụng công nghệ cao, khiến sản xuất chủ yếu thâm dụng lao động phổ thông.
Thực trạng xét chọn và phát triển sản phẩm:
- Các tỉnh trong vùng đã bước đầu triển khai chương trình sản phẩm chủ lực nhưng mang tính cục bộ địa phương, tiêu chí thiếu định lượng, cơ chế hỗ trợ chưa đồng bộ.
- Ngành nông nghiệp và thủy sản (lúa gạo, cá tra, tôm, trái cây nhiệt đới) duy trì sản lượng lớn nhưng liên kết chuỗi giá trị yếu, chủ yếu xuất khẩu dạng thô hoặc sơ chế.
- Ngành công nghiệp chế biến và thương mại dịch vụ du lịch phát triển tự phát, chưa hình thành cụm ngành sản phẩm chuyên môn hóa có quy mô liên tỉnh.
Chương 3: Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Chương 3 giải quyết ba nội dung cốt lõi của đề tài:
- Xây dựng Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL:
- Xây dựng hai bộ tiêu chí riêng biệt: Hệ thống đánh giá, xét chọn sản phẩm hàng hóa chủ lực và Hệ thống đánh giá, xét chọn sản phẩm dịch vụ chủ lực.
- Mỗi hệ thống tích hợp cả điều kiện cần (đóng góp GDP, quy mô sản lượng, giải quyết việc làm, kim ngạch xuất khẩu) và điều kiện đủ (khả năng cung ứng nguyên liệu, liên kết chuỗi, bảo vệ môi trường, tiềm năng công nghệ).
- Thiết lập phương pháp tính điểm và thang điểm chuẩn cho từng nhóm chỉ tiêu.
- Xây dựng Danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL:
- Lập danh mục sản phẩm chủ lực vùng giai đoạn 2006–2010 và định hướng danh mục đến năm 2020.
- Cung cấp luận cứ khoa học và tính toán định lượng (qua các hệ số RCA, NTR, LQ, EPR, DRC) chứng minh vị thế chủ lực của nhóm sản phẩm nông nghiệp - thủy sản truyền thống: Lúa gạo, Trái cây và Thủy sản (tôm, cá tra), cùng một số sản phẩm công nghiệp chế biến và dịch vụ du lịch sinh thái có triển vọng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020:
- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách và liên kết vùng: Xây dựng cơ chế điều phối liên kết 13 tỉnh thành trong quy hoạch vùng sản xuất tập trung.
- Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ: Ứng dụng công nghệ chế biến sâu, công nghệ sinh học chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao.
- Nhóm giải pháp về thị trường và thương hiệu: Xây dựng thương hiệu sản phẩm xuất khẩu mang nhãn hiệu vùng ĐBSCL và quốc gia; áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO, GlobalGAP, HACCP).
- Nhóm giải pháp đào tạo nhân lực và phát triển hạ tầng logistics, hệ thống kho bãi bảo quản sau thu hoạch.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án:
- Hoàn thiện cơ sở lý luận về sản phẩm chủ lực và phương pháp luận xác định sản phẩm chủ lực cấp vùng kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Xây dựng Bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL gồm hai hệ thống độc lập (hàng hóa và dịch vụ), kết hợp giữa điều kiện cần và điều kiện đủ, giữa tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính.
- Cung cấp cơ sở khoa học và chứng minh bằng chỉ số định lượng về tính chủ lực của các mặt hàng thế mạnh tự nhiên của ĐBSCL gồm lúa gạo, trái cây và thủy sản.
- Xây dựng Bảng danh mục sản phẩm chủ lực của ĐBSCL giai đoạn 2006–2010 và định hướng đến năm 2020 trên cơ sở sàng lọc qua bộ tiêu chí.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm phát triển bền vững sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020 theo mô hình cụm ngành và tiêu chuẩn môi trường.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Kiến nghị các địa phương ĐBSCL thống nhất quy trình 4 giai đoạn xét chọn sản phẩm chủ lực cấp vùng.
- Đề xuất chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ nghiên cứu chuyển giao công nghệ và xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực.
- Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân và các viện nghiên cứu, trường đại học trong vùng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi dữ liệu: Số liệu khảo sát và thống kê phục vụ phân tích thực trạng tập trung trong giai đoạn 2006–2010.
- Hạn chế về lượng hóa tiêu chí dịch vụ: Việc đo lường định lượng các tiêu chí đối với khu vực sản phẩm dịch vụ và giá trị thương hiệu phi vật thể tại ĐBSCL còn gặp rào cản do thiếu dữ liệu thống kê chi tiết ở cấp địa phương, phải dựa một phần vào đánh giá chuyên gia.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu định lượng về các hệ số cạnh tranh (RCA, DRC, EPR) trong các giai đoạn tiếp theo; mở rộng nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn đến quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản phẩm chủ lực ĐBSCL.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp khung phương pháp, quy trình 4 giai đoạn và bộ tiêu chí để Ban chỉ đạo kinh tế vùng và UBND 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL ban hành chính sách xét chọn, quy hoạch và hỗ trợ sản phẩm chủ lực thống nhất.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và viện nghiên cứu: Cung cấp khung lý thuyết về kinh tế vùng, phương pháp vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter và phương pháp tính toán các chỉ số kinh tế lượng (RCA, NTR, LQ, EPR, DRC) trong nghiên cứu sản phẩm chủ lực.
- Đối với doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng: Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện cần - đủ để tái cấu trúc quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn tham gia chuỗi sản phẩm chủ lực.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa sản phẩm chủ lực như thế nào?
Luận án định nghĩa sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng khối lượng lớn với năng lực cạnh tranh cao, giữ vai trò hạt nhân lan tỏa thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển, đồng thời thể hiện tính đặc thù hoặc bản sắc văn hóa của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ.
2. Tác giả sử dụng các chỉ tiêu định lượng nào để đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm?
Luận án sử dụng 5 chỉ số định lượng: Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA), Hệ số thương mại ròng (NTR), Hệ số địa phương hóa (LQ), Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR) và Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC).
3. Quy trình xác định sản phẩm chủ lực trong luận án gồm mấy giai đoạn?
Quy trình gồm 4 giai đoạn: (1) Giai đoạn chuẩn bị; (2) Giai đoạn thông tin và tiếp nhận đăng ký; (3) Giai đoạn tổ chức đánh giá, xét chọn (với 3 phương án xử lý kết quả chấm điểm); (4) Giai đoạn công nhận và tôn vinh sản phẩm chủ lực.
4. Dữ liệu thực trạng nguồn nhân lực ĐBSCL giai đoạn 2006–2010 phản ánh đặc điểm gì?
Năm 2010, ĐBSCL có 17,272 triệu dân, dân số nông thôn chiếm 76,84%, tỷ lệ lao động có việc làm đạt 56,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 7,9% năm 2010 (thấp nhất trong các vùng kinh tế cả nước và thấp hơn nhiều mức trung bình 14,6% của toàn quốc).
5. Luận án rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào từ các nước Đông Nam Á?
Luận án rút ra 6 bài học kinh nghiệm từ Indonesia (cải cách đồn điền, điều tiết giá sàn, tín dụng nông nghiệp), Philippines (Luật AFMA 1998, dự án GMA, vùng lúa Mindanao, chế biến dừa) và Thái Lan (chương trình 5 năm, công nghiệp chế biến lúa gạo/cao su, quỹ ORRAF, áp dụng ISO 14000/EMS và trung tâm thực phẩm Hồi giáo).
Kết luận
Luận án đã hệ thống hóa cơ sở khoa học về sản phẩm chủ lực, kết hợp các lý thuyết lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và cụm phát triển để giải quyết bài toán phát triển kinh tế vùng ĐBSCL. Tác giả đã phân tích tiềm năng, hiện trạng tài nguyên đất, nguồn nhân lực giai đoạn 2006–2010 và xây dựng bộ tiêu chí cùng quy trình 4 giai đoạn xét chọn sản phẩm chủ lực cấp vùng. Công trình xác lập danh mục sản phẩm chủ lực (lúa gạo, trái cây, thủy sản) và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững đến năm 2020, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác hoạch định chính sách kinh tế vùng ĐBSCL.