CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu liên quan mật thiết đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA ở các nước và các tổ chức trên thế giới ODA ra đời sau chiến tranh Thế giới lần thứ II (năm 1943), khởi nguồn từ Tổ chức tiền thân của OECD. Tổ chức này hình thành nhằm quản lý nguồn viện trợ của Canada và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong khuôn khổ kế hoạch “Marshall Plane” nhằm tái thiết lại Châu Âu sau chiến tranh Thế giới lần thứ II.
Năm 1961, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế ra đời thay thế cho Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu, trong khuôn khổ hợp tác phát triển các nước thuộc tổ chức OECD, OECD đã tiến hành thành lập ra các Uỷ ban chuyên môn nhằm điều phối toàn bộ hoạt động của OECD, trong đó có DAC (Development Co-operation Directorate) là một trong những Uỷ ban có nhiệm vụ hỗ trợ và cân đối toàn bộ nguồn viện trợ do các nước thuộc OECD đóng góp tới các nước đang phát triển, giúp các nước này phát triển kinh tế một cách bền vững. Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA theo vùng và quốc gia chủ yếu là bài báo trên các tạp chí kinh tế, các báo cáo của nhóm tư vấn, diễn văn họp thường niên của các nhà tài trợ. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đề cập đến các nội dung sau đây: Về khái niệm và nguồn gốc ra đời của ODA: (1)Helmut FUHRER (1996), với nghiên cứu “A history of the development assistance committee and the development co-operation directorate in dates, names and figures”[62], cho thấy năm 1969, Tổ chức OECD đã đưa ra khái niệm về nguồn vốn ODA lần đầu tiên như sau: “Nguồn vốn Phát triển chính thức (viết tắt là ODA) là nguồn vốn hỗ trợ để tăng cường phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang 8 phát triển; Thành tố hỗ trợ chiếm một khoảng xác định trong khoản tài trợ này”. Như vậy, khái niệm sơ khai đã phân biệt ODA với các nguồn vốn đầu tư khác với hai đặc điểm chính: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Có bao gồm thành tố hỗ trợ.
Các khái niệm sau về ODA đã bổ sung và lượng hóa tỷ lệ phần trăm thành tố hỗ trợ là 20-30 % tùy vào Nhà tài trợ và Quốc gia nhận tài trợ. Tuy nhiên, qua thời gian mục đích viện trợ cũng thay đổi, từ mục đích ban đầu là hàn gắn vết thương chiến tranh, sau này là trách nhiệm của các nước giàu giúp các nước nghèo để phát triển kinh tế - xã hội. Về đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA vào phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển: (2) Các nghiên cứu của Boone (1996) [59] và Lensink và Morrissey (2000)[66] đã tập trung đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển từ góc độ kinh tế vi mô, chỉ ra các hạn chế và tác động xấu của các nước đang phát triển khi tiếp nhận nguồn vốn ODA. Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ổn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách tài chính và đầu tư của nước nhận viện trợ.
Các nghiên này đã nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà tài trợ trong chính sách ODA. Hơn nữa, các tác giả đã khẳng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA của nước nhận viện trợ. Đi ngược với quan điểm trên là phần đông các nhà nghiên cứu, trong đó có các công trình nghiên cứu của: (3) Chenery và Strout (1966 )[60] nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn ODA. Tác giả đã lập luận rằng hỗ trợ phát triển từ các nước giàu cho các nước đang phát triển sẽ thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, bằng cách cung cấp một lượng vốn cần thiết ở giai đoạn đầu, rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
9 (4) Teboul và Moustier (2001 [73] cho thấy, lượng vốn ODA từ bên ngoài ảnh hưởng tích cực đối với trường hợp của các nước trong tiểu vùng Sahara châu Phi. Hỗ trợ phát triển từ nước ngoài đã tác động gia tăng tiết kiệm và tăng trưởng GDP, góp phần phát triển kinh tế các nước tiếp nhận ODA của sáu quốc gia đang phát triển trên biển Địa Trung Hải giai đoạn 1960-1966. (5) SANGKIJIN, Korea Student Aid Foundation (KOSAF), South Korea &CHEOLH.OH, Soongsil University, South Korea (2012 [72], đã nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại các nước nhận viện trợ, trên cơ sở phân tích dữ liệu thu hút và sử dụng ODA tại 117 quốc gia trong suốt 28 năm 1980-2008. Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả kinh tế ODA của các nước đang phát triển khác nhau tùy thuộc vào điều kiện chính trị (ví dụ, minh bạch quốc gia), và điều kiện kinh tế của từng quốc gia (ví dụ, mức thu nhập).
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một khi mức độ minh bạch của một quốc gia đạt đến một điểm nhất định, hiệu ứng cận biên ròng kinh tế ODA cho các quốc gia giảm, thì ODA tác động có hiệu quả đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các Quốc gia nhận viện trợ. (6) Tun Lin Moe[74], với nghiên cứu “An empirical investigation of relationships between official development assistance (ODA) and human and educational development”, đã đánh giá tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào sự phát triển giáo dục và con người ở tám quốc gia được lựa chọn tại khu vực Nam Á và chỉ ra sự khác biệt các chỉ số phát triển con người; cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo trình, giáo viên đã được cải thiện sau 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA. Về những bài học kinh nghiệm trong quá trình sử dụng ODA vào phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nông nghiệp và phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo: (7) Antonio Tujan Jr (2009)[56], đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA là: (i) Sự cởi bỏ vô điều kiện viện trợ, bao gồm cả viện trợ lương thực và hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực sản xuất và đời sống của người nghèo thông qua các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ; (ii) Tăng 10 cường quyền sở hữu và trách nhiệm của địa phương bằng cách giảm dần sự phụ thuộc của họ vào nhà tài trợ; (iii) Tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho các tổ chức xã hội dân sự là đối tác quan trọng về các chương trình xoá đói giảm nghèo. Tác giả đã chỉ ra cụ thể tình hình kinh tế, chính trị của nước nhận viện trợ, khu vực, lĩnh vực thu hút và sử dụng viện trợ và các số liệu để đánh giá hiệu qủa sử dụng từ năm 1960 đến năm 2002.
(8) Asian Development Bank (1999)[57], đã chỉ ra một trong những thành công trong thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Thái Lan là thành lập một hệ thống quản lý, điều phối và thực hiện các chương trình, dự án đủ mạnh từ trung ương đến địa phương, các chương trình viện trợ được tập trung ở một cơ quan là Tổng vụ hợp tác kinh tế và kỹ thuật trực thuộc Chính phủ. (9) Jamie Morrision, Dirk Bezemer and Catherine Arnold (November 2004) [64] thực hiện nghiên cứu động thái nguồn vốn ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn trên thế giới giảm liên tiếp trong hai thập kỷ qua, nhằm trả lời hai câu hỏi: (i) Tính chất và khối lượng nguồn vốn ODA viện trợ cho nông nghiệp thay đổi như thế nào?; (ii) Nguyên nhân của sự sụt giảm nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn là gì?. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: (i) Tỷ trọng nguồn vốn ODA cho nông nghiệp cao nhất chiếm 17% vào năm 1982 và giảm xuống còn 3,5% tổng vốn ODA vào năm 2002, về phân bố địa lý từ năm 1982-2002, nguồn vốn ODA cho nông nghiệp tại Châu Phi giảm 50% và giảm 83% tại khu vực Nam và Trung Á; (ii) Nguyên nhân giảm hỗ trợ ODA cho nông nghiệp và nông thôn là do một số nhà tài trợ chuyển đổi trọng tâm hỗ trợ sang y tế, giáo dục và một số các quốc gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang phát triển công nghiệp và dịch vụ thay vì phát triển nông nghiệp. Đây là một thách thức trong quá trình thu hút nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp và nông thôn tại Việt Nam trong những năm tới.
Tình hình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam Bên cạnh các công trình nghiên cứu của nước ngoài về ODA, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài báo và sách đề cập đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam, có thể kể ra các một số công trình nghiên tiêu biểu sau: 11 (1)Tôn Thành Tâm (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005)[39] với luận án về “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam”, đã đề cập đến các nội dung: (i) Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); (ii) Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ở Việt Nam; (iii) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA trong thời gian tới (đến năm 2010). Tác giả đã phân tích kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn ODA của các nước trên thế giới và các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Tuy nhiên phân tích này chỉ nêu lên kết quả của các nước trong quá trình sử dụng vốn mà không phân tích sâu các nguyên nhân, tác giả cũng không đưa ra các khuyến nghị về chính sách, mô hình quản lý sử dụng ODA,. của các nước sử dụng và quản lý thành công hay thất bại nguồn vốn ODA.