Luận Văn Thạc Sĩ Về Lãnh Đạo Phát Triển Nông Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh Từ Năm 1997 Đến Năm 2008

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong phát triển nông nghiệp giai đoạn 1997-2008, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2000

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trước ngày tái lập tỉnh

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2008

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Một số nhận xét

3.2. Những thành tựu và nguyên nhân

3.3. Hạn chế và nguyên nhân

3.4. Một số kinh nghiệm lịch sử

3.4.1. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn

3.4.2. Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo ở địa phương

3.4.3. Trong quá trình chỉ đạo phải xác định đúng phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp từng địa phương

3.4.4. Phát triển nông nghiệp phải xuất phát từ lợi ích, phát huy vai trò, sức mạnh tổng hợp của nông dân

3.4.5. Đảng bộ các cấp phải đặc biệt coi trọng lãnh đạo ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Nông Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh 1997 2008

Nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã trải qua nhiều biến đổi quan trọng từ năm 1997 đến 2008. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của nền nông nghiệp, với sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. Các chính sách phát triển nông nghiệp đã được triển khai nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ mới và cải cách trong quản lý đã góp phần quan trọng vào sự phát triển này.

1.1. Điều Kiện Tự Nhiên và Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với đất đai màu mỡ và hệ thống thủy lợi phong phú. Tình hình kinh tế - xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển.

1.2. Vai Trò Của Đảng Bộ Trong Lãnh Đạo Nông Nghiệp

Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã có những chủ trương đúng đắn trong việc lãnh đạo phát triển nông nghiệp, từ việc áp dụng các chính sách đến việc khuyến khích nông dân tham gia vào các mô hình sản xuất mới.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Nông Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng nông nghiệp Bắc Ninh vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và sự cạnh tranh từ các sản phẩm nông nghiệp khác là những yếu tố cần được giải quyết. Đặc biệt, việc duy trì và phát triển các mô hình sản xuất bền vững là một thách thức lớn.

2.1. Biến Đổi Khí Hậu và Ảnh Hưởng Đến Nông Nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc thích ứng với những thay đổi này là rất cần thiết.

2.2. Ô Nhiễm Môi Trường và Tác Động Đến Sản Xuất

Ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt đã ảnh hưởng đến chất lượng đất và nước, từ đó tác động đến sản xuất nông nghiệp.

III. Phương Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Tại Bắc Ninh

Để phát triển nông nghiệp bền vững, tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc cải cách chính sách, đầu tư vào công nghệ và nâng cao năng lực cho nông dân là những giải pháp quan trọng. Đồng thời, việc khuyến khích hợp tác xã và các mô hình sản xuất liên kết cũng được chú trọng.

3.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Mới Trong Nông Nghiệp

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các mô hình canh tác thông minh và tiết kiệm nước đang được khuyến khích.

3.2. Khuyến Khích Hợp Tác Xã Trong Nông Nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp đã trở thành một mô hình hiệu quả trong việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Điều này không chỉ giúp nông dân giảm rủi ro mà còn nâng cao giá trị sản phẩm.

IV. Thành Tựu Nổi Bật Trong Phát Triển Nông Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh

Giai đoạn 1997-2008, nông nghiệp Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Sản lượng lương thực tăng cao, các sản phẩm nông sản chất lượng được xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Đặc biệt, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.

4.1. Tăng Trưởng Sản Lượng Lương Thực

Sản lượng lương thực của tỉnh đã tăng đáng kể nhờ vào việc áp dụng các biện pháp canh tác hiện đại và cải tiến giống cây trồng.

4.2. Xuất Khẩu Nông Sản Chất Lượng Cao

Nhiều sản phẩm nông sản của Bắc Ninh đã được xuất khẩu sang các thị trường khó tính, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho nông dân.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nông Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh

Tương lai của nông nghiệp Bắc Ninh phụ thuộc vào việc tiếp tục cải cách và đổi mới. Các chính sách phát triển nông nghiệp cần phải linh hoạt và phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là những yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của tỉnh.

5.1. Định Hướng Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững

Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững sẽ giúp tỉnh Bắc Ninh duy trì được sự phát triển ổn định và bền vững trong tương lai.

5.2. Vai Trò Của Công Nghệ Trong Tương Lai Nông Nghiệp

Công nghệ sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, giúp tỉnh Bắc Ninh phát triển mạnh mẽ hơn.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho bước chuyển biến nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã xác định đường lối đổi mới toàn diện đặt trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đại hội khẳng định: “Phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [35, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, Tỉnh ủy Hà Bắc đã có nhiều nghị quyết bổ sung vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển KTXH của Tỉnh.

Báo cáo bổ sung Nghị quyết Đại hội VII của Đảng bộ Tỉnh xác định: “nắm vững mục tiêu quan trọng hàng đầu là giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm để ổn định đời sống nhân dân” [4, tr. Tỉnh ủy Bắc Ninh xác định nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ trọng yếu nhất, vấn đề lương thực, thực phẩm được đặt lên hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu đặc biệt là quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Đảng bộ Tỉnh đã đề ra nhiều biện pháp chỉ đạo phát triển nông nghiệp. Để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, trước hết cần phải có cơ chế thích hợp.

Cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp đã được thực hiện và nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là củng cố các HTX nông nghiệp cả về cơ cấu tổ chức và quy mô. Các HTX trong Tỉnh đã từng bước nâng cao hiệu quả quản lý điều hành của ban quản lý HTX và tăng cường quản lý việc sử dụng đất đai. Ban quản lý HTX chuyển chức năng từ quản lý theo kế hoạch, khoán việc; bình quân chấm điểm sang hướng dẫn kỹ thuật và dịch vụ các khâu làm đất, bảo vệ thực vật, tưới tiêu nước.Bộ máy quản lý được tinh gọn đã làm giảm chi phí gián tiếp, tăng hiệu quả điều hành. Đây là điều kiện mang tính tiên quyết thúc đẩy nông nghiệp của Tỉnh có bước chuyển biến mới những năm trước tái lập.

Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 (1988), Luật đất đai (1993), đến năm 1993, các huyện, thị xã trong Tỉnh đã cơ bản hoàn thành giao ruộng đất cho nông dân, toàn bộ diện tích mặt nước, ao hồ, đầm lầy các địa phương đều cho xã viên tham gia đấu thầu. Những cơ chế mới được thực hiện đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nông nghiêp của Tỉnh về các mặt: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch. Năm 1995, trồng trọt chiếm 62,11%, chăn nuôi chiếm 37,89% tỷ trọng ngành nông nghiệp. Về trồng trọt: năm 1995, tổng diện tích gieo trồng đạt 100.657 ha, tổng sản lượng quy thóc đạt 308.553 tấn; lương thực bình quân đầu người đạt 339,7 kg/năm, cao hơn mức bình quân lương thực chung của cả nước.

Kinh tế vườn đồi được nhân rộng. Đến năm 1995, toàn Tỉnh có hàng trăm vườn cây ăn quả, mỗi năm cho thu nhập hàng chục triệu đồng. Bên cạnh đó, mỗi năm Tỉnh còn trồng thêm khoảng 2 triệu cây lấy gỗ, phủ kín các đồi trọc. Về chăn nuôi: chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng được quan tâm và có bước phát triển với nhiều mô hình làm kinh tế theo công thức VAC, áp dụng khoa học, kỹ thuật và bước đầu đưa cây con giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất.

Nhiều huyện trong Tỉnh đã phát triển mạnh đàn giá súc, gia cầm như huyện Gia Bình, Lương Tài với khoảng hơn 300 hộ nuôi gà công nghiệp, 100 hộ chăn nuôi con đặc sản như ếch, ba ba, lươn. Các huyện như Quế Võ, Yên Phong đã đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính. Đặc biệt, Tỉnh còn phát triển mạnh nghề trồng dâu, nuôi tằm ở một số huyện như Yên Phong, thuận Thành. Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp: Bắc Ninh có một số huyện nằm trong vùng trũng có bình độ thấp như Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành.

Để chủ động tưới tiêu, Tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng trong thời gian từ 1991 - 1995, huy động hàng vạn dân công nạo vét kênh mương. Toàn Tỉnh có trên 300 trạm bơm đảm bảo chủ động tưới tiêu cho trên 70% diện tích canh tác. Hệ thống đường giao thông phục vụ nông nghiệp từng bước được cải thiện. Đến cuối năm 1996, hầu hết các tuyến đường giao thông liên huyện, liên xã được trải nhựa, dải cấp phối.

Một số đường thuộc khu trung tâm của các xã đã được bê tông hóa, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển. Đặc biệt là tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh và với các địa phương khác. Mạng lưới điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất được mở rộng. Tính đến 1996, toàn Tỉnh có 122/123 xã có điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong nông nghiệp, thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những hạn chế, yếu kém: Sản xuất nông nghiệp của Tỉnh phát triển không đều, tốc độ tăng chậm, bấp bênh. Sản xuất nông nghiệp chưa phát triển toàn diện, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tỷ trọng của ngành; chăn nuôi đặc biệt là nuôi trồng thủy sản chưa được quan tâm đúng mức vì vậy sản lượng đạt được thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng. Trong trồng trọt, diện tích cây rau màu, cây có hiệu quả kinh tế cao, cây công nghiệp có diện tích nhỏ không tận dụng được hết lợi thế của Tỉnh so với các tỉnh khác ở đồng bằng sồng Hồng đặc biêt là lợi thế về diện tích đất đồi. Tuy nhiên nhìn chung nông nghiệp của Tỉnh vẫn còn trong tình trạng manh mún, hiệu quả kinh tế thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất lao động còn rất hạn chế.

Nông nghiệp của Tỉnh vẫn được sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vì vậy hiệu quả thấp. Tỷ lệ cơ giới hóa, điện khí hóa các khâu sản xuất còn thấp. Lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhưng hầu hết là lao động giản đơn, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp hơn các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng. Chính vì vậy đã hạn chế đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của các ngành trong Tỉnh chưa thực sự sát sao; thiếu những chủ trương, biện pháp cụ thể; thiểu kiểm tra, đôn đốc chặt chẽ. Các Chỉ thị, Nghị quyết chưa được cụ thể hóa và vận dụng phù hợp vào đặc điểm từng lĩnh vực của nông nghiệp, từng địa phương trong Tỉnh. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực trạng này đòi hỏi Đảng bộ Tỉnh phải tiếp tục có những giải pháp phù hợp, sát thực tiễn để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong nông nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển KTXH của Tỉnh trong tương lai. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm 1997 - 2000 1.

Chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam Phát triển nông nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển KTXH đặc biệt ở những quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp như Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề nông nghiệp luôn được Đảng đặt lên vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mọi giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Về bản chất “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [39, tr.

Như vậy, có thể thấy mục tiêu của quá trình CNH, HĐH là nâng cao hiệu quả KTXH, giữ nhịp độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Việt Nam là một quốc gia có đến gần 80% dân số nông thôn, gần 70% lực lượng lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp, tạo ra gần 1/3 tổng sản phẩm trong nước và hơn 40% giá trị xuất khẩu hàng năm nên nông nghiệp có vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp phát triển KTXH của đất nước. CNH nông nghiệp, nông thôn là nội dung quan trọng nhất trong quá trình CNH đối với tất cả các quốc gia. Căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nước ta và vận dụng kinh nghiệm của các nước tiên tiến, Đảng đã khẳng định 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải đặc biệt coi trọng CNH nông nghiệp và nông thôn trong thời kì đầu của quá trình CNH.

Nước ta tiến hành CNH trong điều kiện một nền kinh tế thuần nông, trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, chủ yếu là sản xuất tự cấp tự túc vì thế cần nhanh chuyển sang nền kinh tế nông - công nghiệp và dịch vụ, sản xuất nông sản hàng hóa, tạo cơ sở và tiền đề cho công cuộc CNH, HĐH đất nước. Mặt khác, nông nghiệp và nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng về đất đai và lao động - hai nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát triển KTXH. Vì thế, sự nghiệp CNH, HĐH phải được bắt đầu từ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, ngay từ thập niên 60 của thế kỉ XX, Đảng đã xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ lên CNXH với đường lối CNH được xác định là xây dựng một nền kinh tế cân đối và hiện đại, lấy nông nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ