phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng biểu phụ lục kèm theo, cấu trúc luận văn này gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Tƣ Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Tƣ Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Luan van 4 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu nước ngoài - Theo Lewis (1954) đại diện cho trƣờng phái Tân cổ điển muốn phát triển nông nghiệp thì phải chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp. Khu vực nông nghiệp, tồn tại tình trạng dƣ thừa lao động và lao động dƣ thừa này dần chuyển sang khu vực công nghiệp [7,tr. - Theo Torado (1990) cho rằng sự phát triển nông nghiệp là quá trình chuyển đổi từ độc canh tới đa dạng hóa rồi chuyên môn hóa.
Bằng cách tiếp cận với mô hình hàm sản xuất Sun Sang Park (1992) cho rằng sự phát triển nông nghiệp, quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3 thời gian: sơ khai, đang phát triển và phát triển. Mỗi thời gian phát triển, sản lƣợng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Thời gian sơ khai, sự phát triển nông nghiệp chỉ dựa vào khai thác yếu tố từ tự nhiên và lao động (chủ yếu theo chiều rộng). Thời gian đang phát triển – sự phát triển dựa vào ngoài các yếu tố ban đầu còn dựa vào các yếu tố đầu vào đƣợc sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón, hóa học).
Thời gian phát triển nhờ sử dụng các yếu tố sản xuất từ công nghiệp đặc biệt máy móc và kỹ thuật hiện đại mà năng suất nông nghiệp tăng lên [7, tr. Nghiên cứu trong nước “Nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của các nƣớc đang phát triển. Nông nghiệp phát huy đƣợc vai trò tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế chỉ khi đƣợc quan tâm đầu tƣ đúng mực và thoát khỏi sự trì trệ lạc hậu. Do đó, phát triển nông nghiệp cũng đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế.
Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa rất lớn về mặt lý thuyết và thực tiễn, nhằm có cái nhìn đúng với nông nghiệp, tránh lệch lạc trong đƣờng lối phát triển kinh tế” [7]. Luan van 5 Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tác giả đã giới thiệu rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến nông nghiệp và cả nội dung phát triển nông nghiệp, đó là: gia tăng quy mô sản lƣợng nông nghiệp; mức độ huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; trình độ tổ chức sản xuất cho nông nghiệp; tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp. - Nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi.
Ngoài ra, giáo trình còn nêu lên những đặc trƣng của hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam: là hệ thống kinh tế nông nghiệp mang tính hỗn hợp với nhiều hình thức sở hữu đa dạng: sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể tƣ nhân và sở hữu hỗn hợp; tƣơng ứng với các hình thức sở hữu nói trên sẽ hình thành và phát triển nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng và năng động; tất cả các chủ thể kinh tế trong hệ thống đều tự do kinh doanh theo pháp luật, có quyền bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trƣớc pháp luật; đặc trƣng về chế độ quản lý hệ thống kinh tế nông nghiệp [36, tr 9-45]. Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ với các nƣớc đang phát triển mà cả với nƣớc phát triển. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế mà ngày nay chúng ta vẫn có thể vận dụng vào thực tiễn. Nông nghiệp có vị trí và và vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, vấn đề phát triển nông nghiệp luôn đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà làm chính sách.
Đặc biệt, từ khi đổi mới đến nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu sắc, chiến lƣợc phát triển nông nghiệp đƣợc Đảng, Nhà nƣớc hết sức chú trọng, rất nhiều nhà khoa học trong nƣớc nghiên cứu, đƣa ra các quan điểm về phát triển nông nghiệp. - Thuật ngữ phát triển nông nghiệp đƣợc dùng nhiều trong đời sống kinh tế và xã hội. Theo Đỗ Kim Chung cho rằng: “Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở thời gian này so với thời gian trƣớc đó, thƣờng đạt ở mức độ cao hơn cả về lƣợng và về chất” [15]. Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất cật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về chủng loại và phù hợp hơn về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp.
Trƣớc hết, phát triển nông nghiệp là một quá trình, không phải trong trạng thái tĩnh. Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chịu sự tác động của quy luật thị trƣờng, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của Chính phủ, nhận thức và cách ứng xử của ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng Luan van 7 về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp. - Nguyễn Trần Trọng (2012) bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam thời gian 2011 – 2020” đề cập đến phƣơng pháp tiếp cận phát triển nông nghiệp trong thời gian hiện nay ở Việt Nam dƣới góc độ thị trƣờng; góc độ công nghiệp; góc độ môi sinh và những định hƣớng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam thời gian 2011 – 2020 gồm: Tiếp tục đẩy mạnh SXNN hàng hóa theo hƣớng kinh tế thị trƣờng,… Tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản.
Hoàn thiện cơ cấu SXNN theo hƣớng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa từng ngành, từng vùng sản xuất. Xây dựng các loại hình kinh tế nông nghiệp phù hợp trong nông nghiệp. Thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp [27]. - Nghiên cứu Việt Nam hướng tới 2010 do Bộ kế hoạch và đầu tƣ chủ trì và đƣợc cơ quan phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ có bàn đến phát triển nông nghiệp và hội nhập kinh tế.
Nghiên cứu này cho rằng “Hội nhập và tăng trƣởng kinh tế sẽ mang lại thay đổi và cả rủi ro. Nhƣng rủi ro lớn nhất đó chính là sự không theo đuổi sự tự do hóa sâu sắc, bởi vì tăng trƣởng chậm sẽ làm tổn hại đến tất cả các mục tiêu phát triển của Việt Nam”, nghiên cứu này thôi thúc Việt Nam hãy tận dụng tối đa hội nhập kinh tế để tăng trƣởng kinh tế nhanh, trong đó nông nghiệp là điều kiện để giảm nghèo đói nhanh, phát triển nông thôn và gia tăng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam [1]. - Hội thảo khoa học “Tác động của biến đổi cơ cấu xã hội đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn các tỉnh phía Nam trong thời kỳ đổi mới” do Tạ Ngọc Tấn, Trƣơng Giang Long, Bùi Chí Cửu, Bùi Thế Cƣờng đồng chủ trì (2009) đề cập đến khu vực nông nghiệp và nông thôn là một trong những khu vực có những biến động và chịu tác động nhiều nhất của biến đổi cơ cấu xã hội - Bùi Quang Bình (2001), trong tác phẩm Di dân trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam: trường hợp của miền Trung – Tây Nguyên, NXB Lao động, đã nêu ra một số giải pháp đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn nhƣ: Đẩy mạnh phát triển nền công nghiệp hàng hóa; đƣa nhanh và áp dụng rộng tiến bộ khoa học công nghệ vào SXNN, nâng cao hiệu quả SXNN,, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, đẩy nhanh hơn cơ giới hóa ở nông thôn; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn; xây dựng hợp lý cơ cấu SXNN; phát triển mạnh dịch vụ ở nông thôn [6]. Luan van 9 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.
KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm a. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì 1 mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi [7, tr.
Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Theo nghĩa rộng, ngành nông nghiệp bao gồm ba lĩnh vực: nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi.), lâm nghiệp và thủy sản. Quan niệm về nông nghiệp theo cách hiểu này có tác dụng làm SXNN không bị phát triển một cách hạn hẹp, phiến diện, chia cắt. Nhờ đó mà các tiềm năng và lợi thế về phát triển nông nghiệp nhƣ đất đai, điều kiện khí hậu thời tiết, vị trí địa lý, kinh tế… đƣợc đầu tƣ khai thác sử dụng có hiệu quả [13], [15].
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định SXNN thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực SXNN có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi ngƣời nông dân (tự cấp, tự túc). Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai. Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực SXNN đƣợc chuyên môn hóa trong tất cả các khâu SXNN, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng công nghệ hóa học Luan van 10 (chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón), sinh học (chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới), mức độ cơ giới hóa cao và nông nghiệp sinh thái hay nói cách khác là nông nghiệp bền vững.