phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục khác đề tài gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Buôn Đôn giai đoạn 2008-2013 Chƣơng 3. Các giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Buôn Đôn trong thời gian tới 8.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con ngƣời. Xã hội có thể thiếu nhiều loại sản phẩm nhƣng không thể thiếu lƣơng thực, thực phẩm cho xã hội. Do đó, việc thỏa mãn các nhu cầu về lƣơng thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định xã hội, ổn định kinh tế. Do vậy, sự phát triển của nông nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc thỏa mãn nhu cầu này.
Bảo đảm nhu cầu về lƣơng thực, thực phẩm không chỉ là yêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội. Trong các luận văn thạc sỹ với đề tài phát triển nông nghiệp của một địa phƣơng trƣớc đây cũng đã đƣợc một số tác giả hệ thống hóa các vấn đề để phát triển nông nghiệp. Cụ thể: - Tác giả Nguyễn Hồng Quang chuyên nghành kinh tế phát triển với đề tài “Phát triển nông nghiệp huyện Quế Sơn” đã phân tích những mặt mạnh và những điểm còn hạn chế đặc thù của một huyện trung du miền núi và đề ra Luan van 7 những giải pháp nhƣ hoàn thiện chính sách, thâm canh tăng năng suất, tăng cƣờng huy động các nguồn lực cho nông nghiệp…[ 4 ] - Tác giả Nguyễn Thị Vân cũng nghiên cứu đề tài “ Phát triển bền vững nông nghiệp trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”, đặc thù là một địa phƣơng có nền nông nghiệp phát triển khá, thu nhập bình quân đầu ngƣời cao, số hộ nghèo giảm dần qua các năm có nhiều thuận lợi hơn tuy nhiên cũng có những khó khăn cần khắc phục khi phát triển nông nghiệp trong thời gian tới cụ thể nhƣ: cần tăng cƣờng đầu tƣ cho công tác đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động trong nông nghiệp, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuyên truyền vận động về bảo vệ môi trƣờng… [5] - Tác giả Đào Quang Thắng nghiên cứu đề tài “ Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng”. Dù là một đô thị hiện đại nhƣng Đà Nẵng cũng có nhiều loại đất nhƣ Buôn Đôn phù hợp với trồng lúa, trồng rau và vùng đất đỏ đồi núi thích hợp trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, dƣợc liệu, chăn nuôi gia súc.
Đà Nẵng đang trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ theo hƣớng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng trƣởng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Đà Nẵng có thế mạnh là trung tâm của khu vực miền Trung - Tây Nguyên là nơi tập trung các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở đào tạo của cả khu vực nên trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật nguồn nhân lực của thành phố tƣơng đối cao so với trung bình của cả nƣớc. Tuy nhiên, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong nông nghiệp của thành phố nhƣ chính sách quy hoạch đất đai của nông nghiệp bất hợp lý, chính sách phát triển nông nghiệp chƣa thể hiện đƣợc vai trò chủ đạo trong định hƣớng cho nông nghiệp phát triển bền vững. Tình hình áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp bất cập, chuyển đổi cơ chế diễn ra còn chậm, cán bộ hỗ trợ kỹ thuật nông nghiêp chƣa hiệu quả.Vì vậy tác giả đƣa ra một số đề xuất nhằm cải thiện tình trạng Luan van 8 trên nhƣ tập trung khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hƣớng công nghiệp gắn với sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Quy hoạch tổng thể, phát triển nông nghiệp theo hƣớng sạch, đa dạng hóa. Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi ruộng đất ở những vùng ruộng đất manh mún tiến tới xây dựng các mô hình lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tăng cƣờng áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến phù hợp. Đổi mới tƣ duy phát triển nông nghiệp.
[ 6 ] - Đề tài “Phát triển bền vững nông nghiệp huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm nghiên cứu một địa phƣơng nghèo, miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Nam, diện tích đất sử dụng chƣa hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp cao, năng suất cây trồng và việc áp dụng những tiến bộ khoa học vào nông nghiệp không cao. Tác giả đã đƣa ra một số giải pháp nhƣ tăng cƣờng áp dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ làm tiền đề quan trọng để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, năng suất ruộng đất và năng suất lao động của nông dân. Bên cạnh đó chuyển dịch cơ cấu hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng những nguồn lực phù hợp với tiềm năng thế mạnh của địa phƣơng, phân vùng hợp lý để phát triển tƣơng hỗ lẫn nhau….[ 7 ] - Cùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tác giả Nguyễn Thị Mai chọn phát triển nông nghiệp ở huyện Điện Bàn làm đề tài luận văn của mình. Theo nghiên cứu của tác giả huyện Điện Bàn là vùng có tài nguyên đất đai phì nhiêu, gần đầu mối giao thông và các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của khu vực, lợi thế phát triển nông nghiệp là rất lớn.
Năng suất lao động của huyện ngày càng cao, giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm của huyện cũng tăng, chuyển dịch cơ cấu hợp lý và phù hợp với xu thế phát triển. Tuy nhiên, tác động của thiên nhiên tới sự phát triển nông nghiệp là khá lớn do địa bàn huyện nằm trong khu vực thời tiết có nhiều biến động phức tạp, mƣa bão thƣờng xuất hiện sóm, tình trạng thiếu nƣớc và nguồn nƣớc bị nhiễm mặn làm ảnh hƣởng rất lớn đến sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp của huyện. Do đó, tác Luan van 9 giả đã đƣa ra một vài giải pháp để phát triển nông nghiệp nhƣ tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hƣớng phát triển công nghiệp – dịch vụ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời đẩy nhanh quá trình đô thị hóa gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới. Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nƣớc, đất đai, tăng cƣờng biện pháp chống suy thoái.
Phân vùng cây trồng hợp lý để bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên nƣớc.[ 8 ] - Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân chọn đề tài phát triển nông nghiệp tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai là đề tài luận văn của mình. An Khê là huyện miền núi, thời tiết và khí hậu khắc nghiệt, hơn nữa do sự biến đổi khí hậu nên thƣờng xuyên xảy ra thiên tai, hạn hán gây thiệt hại đến công trình hạ tầng kỹ thuật ảnh hƣởng tới phát triển kinh tế và đời sống của ngƣời dân. Bên cạnh đó thực trạng về phát triển kinh tế trang trại tự phát, không theo quy hoạch mô hình nhỏ thiếu định hƣớng, nguồn lực và tài chính yếu, trình độ ứng dụng khoa học còn thấp. Hoạt động của các hợp tác xã cầm chừng, doanh thu và lợi nhuận thấp chƣa có phƣơng án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi cao.
Năng suất cây trồng đều giảm, trình độ thâm canh còn thấp, khả năng nắm bắt kỹ thuật thấp đã phần nào ảnh hƣởng tới sự phát triển của thị xã. Do vậy, tác giả đã đƣa ra một vài giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại nêu trên cụ thể : tập trung đẩy mạnh những ứng dụng khoa học kỹ thuật, đầu tƣ đồng bộ hệ thống kết cầu hạ tầng. Lập kế hoạch giúp các cơ quan lãnh đạo và quản lý các vùng nông thôn có căn cứ để đƣa ra những chủ trƣơng, kế hoạch phát triển, các giải pháp để chỉ đạo, điều hành. Quy hoạch bố trí nguồn đất cho vùng sản xuất tập trung, thu hút đầu tƣ cho phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng chất lƣợng cao, có chính sách phù hợp thu hút đầu tƣ vào các nghành công nghiệp thế mạnh của thị xã phục vụ xuất khẩu, tập trung sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm chủ lực….[ 9 ] Luan van 10 Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập rất toàn diện, đi sâu phân tích từng mặt tích cực cũng nhƣ hạn chế của phát triển nông nghiệp trên địa bàn địa phƣơng.
Tuy nhiên, chƣa có một nghiên cứu cụ thể về vấn đề phát triển nông nghiệp ở huyện nhƣ Buôn Đôn, nơi có những nét đặc thù riêng có về lịch sử, văn hóa, điều kiện tự nhiên, cũng nhƣ thế mạnh và tiềm năng nhƣ trình bày trong luận văn này. Luan van 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm nông nghiệp Theo Bách khoa toàn thƣ Việt Nam - Nông Nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Tức là nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp, cụ thể hơn nông nghiệp là ngành sản xuất của cải vật chất mà con ngƣời phải dựa vào quy luật sinh trƣởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm nhƣ lƣợng thực, thực phẩm…để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản Nhƣ vậy nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Những điều kiện tự nhiên nhƣ đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lƣợng mƣa, bức xạ mặt trời…trực tiếp ảnh hƣởng đến năng suất, sản lƣợng cây trồng vật nuôi.
Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng khoa học – công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất trong nông nghiệp ở nƣớc ta thƣờng gắn liền với phƣơng pháp canh tác, lề thói, tập quán…đã có từ hàng nghìn năm nay.