Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thực trạng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2018-2022. Định hƣớng, giải pháp phát triển nông nghiệp công nghệ cao huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2023 - 2030.
12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1. Cơ sở lý luận về nông nghiệp công nghệ cao 1. Khái niệm nông nghiệp công nghệ cao Khái niệm công nghệ cao Xem xét ở phƣơng diện kinh tế để làm cơ sở đánh giá, xếp hạng các ngành sản xuất, các sản phẩm trong phát triển kinh tế ở một số quốc gia thì khái niệm CNC đƣợc tiếp cận dựa vào cƣờng độ nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ, cụ thể: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) dựa vào cƣờng độ nghiên cứu và phát triển công nghệ (Cƣờng độ nghiên cứu và phát triển đƣợc tính toán trên cơ sở giá trị gia tăng trong từng ngành, theo sản phẩm) ở mức độ khác nhau để phân chia công nghệ thành 3 loại công nghệ thấp, trung bình và công nghệ cao. Phân loại dựa vào R&D theo ngành của OECD đƣợc cụ thể hóa ở hệ thống ISIC (Tiêu chuẩn phân loại công nghiệp quốc tế).
Và tiêu chuẩn này cũng đƣợc OECD xem xét điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, hiện nay CNC theo ISIC bao gồm bốn nhóm ngành là: ngành hàng không vũ trụ; máy vi tính, máy văn phòng; điện tử - truyền thông và dƣợc phẩm. Việc phân chia này nhằm đánh giá, xếp loại các ngành sản xuất trong nền kinh tế của các nƣớc trong OECD. Ở Hoa K , Bộ Thƣơng mại Hoa K cũng xác định CNC theo ngành (mã ISIC). Họ xem xét các ngành CNC là các ngành gắn liền với sự đổi mới liên tục về công nghệ hoặc ở dựa trên chất lƣợng nguồn nhân lực.
Cụ thể là dựa vào (1) Cƣờng độ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hoặc tỷ lệ phần trăm doanh số sử dụng cho R&D; và (2) Công nhân kỹ thuật tính theo tỷ lệ phần trăm của lực lƣợng lao động. Chính vì vậy, những ngành đƣợc xếp theo mã ngành là CNC thì tất cả các công ty trong ngành nhƣ vậy đƣợc coi là ngành CNC. Ngoài cách tiếp cận theo ngành, các quốc gia còn tiếp cận theo sản phẩm để xếp loại CNC. Đây là phƣơng pháp mở ra hƣớng phân tích chi tiết hơn của thƣơng mại và khả năng cạnh tranh.
Việc xác định CNC tiếp cận theo sản phẩm cũng dựa trên R&D 13 trong sản phẩm, tức là dựa trên chi phí cho R&D đã đầu tƣ vào để tạo ra sản phẩm. Lý giải chi tiết hơn về CNC, trên cơ sở tổng hợp nhiều nghiên cứu, tiêu chí ở các nƣớc, Harm Jan Steenhuis (2006) cho rằng: Một công nghệ đƣợc xác định là cao dựa trên hai khía cạnh: độ phức tạp và tính mới của công nghệ. Trƣớc hết, về độ phức tạp của sản phẩm liên quan đến thiết kế của sản phẩm. Độ phức tạp đƣợc xem xét theo khía cạnh "tĩnh" về công nghệ và đƣợc áp dụng cho cả sản phẩm cuối cùng cũng nhƣ quá trình sản xuất.
Thứ hai, tính mới, liên quan đến yêu cầu cập nhật liên tục các sản phẩm hoặc quy trình, đây là yếu tố động hơn [59]. Nhƣ vậy, ở quan niệm này, CNC đƣợc xác định dựa trên phƣơng diện kĩ thuật và tính thƣờng xuyên cập nhật theo thời gian, đảm bảo tính tiến tiến, tính mới của công nghệ đƣợc sử dụng trong sản xuất. Ở Việt Nam, Theo Luật số 21/2008/QH12 ―Luật Công nghệ cao: khái niệm CNC đƣợc hiểu là công nghệ có hàm lƣợng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; đƣợc tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lƣợng, tính năng vƣợt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trƣờng; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có. Nhƣ vậy có thể hiểu, CNC là thuật ngữ để phân biệt với công nghệ giản đơn, là công nghệ đƣợc tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến.
Nhƣng nó cần đƣợc xem xét phù hợp với đặc thù của từng ngành/sản phẩm dựa trên sự tác động của công nghệ đƣợc sử dụng đối với ngành và các sản phẩm so với các công nghệ/kỹ thuật trƣớc đây đƣợc sử dụng trong hoạt động sản xuất. Khái niệm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Loevinsohn, M. và cộng sự cho rằng ứng dụng công nghệ là sự tích hợp của một công nghệ mới vào thực tiễn và thƣờng đƣợc tiến hành qua một khoảng thời gian để thích nghi công nghệ; còn theo Bonabana – Wabbi (2002) định nghĩa việc áp dụng là một quá trình mà một cá nhân chuyển từ việc biết đến sự đổi mới của các công nghệ sang việc sử dụng chúng. Việc áp dụng đƣợc đánh giá theo hai tiêu chí là tỷ lệ áp dụng và tần suất áp dụng.
Tỷ lệ áp dụng là tốc độ mà ngƣời nông dân áp dụng công nghệ đổi mới, cân nhắc tới yếu tố thời gian. Tần suất áp dụng là mức độ sử dụng công nghệ trong bất k khoảng thời gian nào. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nông nghiệp ứng dụng công 14 nghệ cao là sự áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lƣợng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ. Theo Lê Đăng Lăng (2019), nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quá trình sản xuất, chủ thể sản xuất có sự điều chỉnh trong chọn giống, chăm sóc, tiến đến áp dụng những công nghệ kỹ thuật mới để tăng năng suất, chất lƣợng nhằm gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp một cách cao nhất và bền vững.
Phạm Thị Huyền (2019) cho rằng các CNC trong nông nghiệp có thể đƣợc ngƣời nông dân áp dụng trong toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp; ứng dụng CNC trong nông nghiệp cũng có thể hiểu là ứng dụng từng yếu tố công nghệ riêng r ; CNC cũng đƣợc xem xét theo mức độ phức tạp và hiện đại của công nghệ ứng dụng. Đôi khi một sự thay đổi nhỏ trong phƣơng thức canh tác mang lại hiệu quả cao đã đƣợc gọi là công nghệ mới đối với ngƣời nông dân. Lê Bá Tâm (2020), bản chất của nông nghiệp công nghệ cao, xét về kinh tế là việc ứng dụng các công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo ra bƣớc đột phá về năng suất, chất lƣợng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng cao của con ngƣời và xã hội, đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững. Ngoài ra, ứng dụng CNC trong nông nghiệp còn đƣợc xem xét về khía cạnh xã hội – văn hóa và môi trƣờng, đó là hƣớng đến mục tiêu giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp hiện đang còn thấp, chất lƣợng sản phẩm kém, thâm dụng vốn và lao động với nhu cầu năng suất, chất lƣợng và hiệu quả sử dụng vốn, lao động tốt hơn; thực hiện tốt nhất sự phối hợp giữa con ngƣời với tài nguyên, tạo điều kiện phát huy cao nhất hiệu quả lợi thế về tài nguyên, hài hòa và thống nhất vấn đề kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Theo điều 3 tại Luật Công nghệ cao định nghĩa: doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC là doanh nghiệp ứng dụng CNC trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp có chất lƣợng, năng suất, giá trị gia tăng cao. Theo Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 14/3/2017 về Tiêu chí xác định chƣơng trình, dự án nông nghiệp ứng dụng CNC, nông nghiệp sạch, danh mục công nghện cao ứng dụng trong nông nghiệp. 15 Theo đó, quyết định này chỉ rõ danh mục CNC ứng dụng trong nông nghiệp gồm 4 nhóm là: Công nghệ sinh học trong nông nghiệp; Kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, bảo quản; Công nghệ tự động hóa; và Công nghệ sản xuất vật tƣ nông nghiệp. Nhƣ vậy, Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đƣợc hiểu là việc các chủ thể sản xuất áp dụng các kỹ thuật tiên tiến (mới), tập trung thay đổi cách thức sản xuất từ truyền thống sang hiện đại nhƣ tự động hóa, công nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học và giống,.thực hiện tốt nhất sự phối hợp giữa con ngƣời với các nguồn lực khác trong sản xuất, qua đó có thể khai thác tối ƣu nguồn lực đầu vào nhằm nâng cao hiệu quả, gia tăng sản lƣợng, chất lƣợng nông sản, hƣớng đến phát triển nông nghiệp bền vững.
Khái niệm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Phát triển nông nghiệp công nghệ cao là việc ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra và mở rộng các sản phẩm hàng hóa có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, đảm bảo an toàn thực phẩm và có khả năng cạnh tranh so với sản phẩm truyền thống. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đƣa đến những lợi ích rõ ràng: nông sản tiêu dùng đƣợc cải thiện và đƣợc đáp ứng một cách tốt hơn; đảm bảo các vấn đề an ninh lƣơng thực thông qua việc gia tăng sản lƣợng; làm tăng năng suất lao động và hỗ trợ sự phát triển tích cực cho cả nền kinh tế; góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội căn bản. Các phát minh mới trong nông nghiệp đang tạo ra cuộc cách mạng mới gọi là nông nghiệp công nghệ cao hay nông nghiệp thông minh. Nó giữ vai trò quan trọng để nâng cao năng suất nhƣng vẫn thân thiện với môi trƣờng.Nông nghiệp thông minh là việc ứng dụng thành tự trí tuệ nhân tạo và phƣơng tiện liên lạc, điều khiển hiện đại vào từng khâu sản xuất.
Bằng thiết bị liên lạc, ngƣời nông dân có thể kết nối với các thiết bị lắp đặt trên đồng ruộng nhờ vào hệ thống cảm biến thu thập, phân tích dữ liệu. Một khái niệm khác cũng đƣợc sử dụng cho cách thức này là ứng dụng Internet vạn vật (Internet of Things - IoT). Toàn bộ chu trình thu thập và xử lý dữ liệu hoàn toàn tự động, đến ngƣời nông dân s là phƣơng án chờ quyết định cuối cùng về sức khỏe cây trồng vật nuôi, về dịch bệnh, đất, nƣớc hay dự báo xu thế thời tiết.