Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển NLTS. Chương 2:Thực trạng phát triển và phân bố NLTS huyện Thạch Thành giai đoạn 2010 - 2022. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển NLTS huyện Thạch Thành đến năm 2030. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN 1.Cơ sở lý luận về phát triển nông, lâm, thủy sản 1.Tổng quan các công trình ở Việt Nam có liên quan đến đề tài 1.Một số công trình nghiên cứu về phát triển NLTS ở Việt Nam Nguyễn Thế Nhã (2004), trong giáo trình “Kinh tế nông nghiệp” đã đề cập đến một số khía cạnh của kinh tế NN như đặc điểm, các nguồn lực phát triển NN; lý thuyết cung, cầu trong NN; các vấn đề phát triển NN bền vững.
Về TCLTNN, năm 1986, GS Lê Thông quan niệm là các mối liên hệ không gian giữa các bộ phận tự nhiên, dân cư, kinh tế NN nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong quá trình sản xuất [34]. GS Nguyễn Viết Thịnh (1995) cho rằng TCLTNN là tổ chức các không gian NN trên cơ sở đánh giá tác động tổng hợp của các nhân tố tương đối tĩnh (các điều kiện sinh thái NN) và các nhân tố động (như dân cư, lao động, mạng lưới đô thị, kết cấu hạ tầng sản xuất và sinh hoạt, thị trường nông sản, chính sách phát triển.) nhằm đánh giá được sự phân hóa lãnh thổ NN đã định hình, sự hợp lý và chưa hợp lý của nó rồi đưa ra một (hoặc hai, ba) phương án định hướng TCLTNN, trong đó phát hiện chính xác các địa bàn trọng điểm phát triển NN theo hướng CNH, HĐH, đồng thời phát hiện các vùng khó khăn để đề xuất các chính sách phát triển phù hợp [24]. Khá nhiều công trình mang tính đại cương có liên quan đến địa lý NN của Nguyễn Đức Mậu (1977), Bùi Văn Loãn (1983), Nguyễn Đức Tuấn (1998), Nguyễn Minh Tuệ (2005) [34]. Một số tác giả tiêu biểu nghiên cứu những vấn đề về địa lý NN Việt Nam là Nguyễn Trọng Điều và Vũ Xuân Thảo (1983), Trần Đình Gián (1990), Đặng Như Toàn (1995), Lê Thông (2011), Đỗ Thị Minh Đức (2003), Đặng Văn Phan (2008).
Nhìn chung, Địa lý NN có nhiệm vụ nghiên cứu về vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng, tình hình phát triển và TCLTNN.Các nghiên cứu về phát triển NLTS huyện Thạch Thành Một số công trình có chứa một số nội dung về phát triển NLTS huyện Thạch Thành như Địa chí Thanh Hóa tập III (2008) [28], Giáo trình Địa lý Thanh Hóa (2002) của Lê Văn Trưởng [32]; Báo cáo thuyết minh Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của UBND tỉnh Thanh Hóa [41]. Hệ thống các nghị quyết, đề án phát triển NLTS tỉnh Thanh Hóa và Thạch Thành như: Nghị quyết số 13-NQ/TU (năm 2019) về tích tụ, tập trung đất đai để phát triển NN quy mô lớn, công nghệ cao đến 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 13-NQ/TU (năm 2019) của BCH đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về tích tụ, tập trung đất đai để phát triển NN quy mô lớn, công nghệ cao đến 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thạch Thành lần thứ XXIV, nhiệm kỳ 2015 -2020, lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2020 -2025; Nghị quyết số 02-NQ/HU (năm 2016) của BCH Đảng bộ huyện Thạch Thành về tái cơ cấu ngành NN huyện Thạch Thành giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 461/QĐ-UBND (năm 2016) của UBND huyện Thạch Thành về ban hành Đề án tái cơ cấu ngành NN huyện Thạch Thành giai đoạn 2016-2020 [36]; Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2021, huyện Thạch Thành [41], Quy hoạch xây dựng vùng huyện Thạch Thành đến năm 2045 [44]. Về luận văn, luận án có luận văn thạc sĩ Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (2011) của Nguyễn Văn Mạnh [16]; Hiện trạng phát triển NN huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001-2010 của Phạm Văn Thảo [23], Phát triển sản xuất Dứa trên địa bàn huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (2016) của Trương Thị Thu [26]; Phát triển NN theo hướng bền vững ở huyện Thạch Thành (tỉnh Thanh Hóa) (2015) của Đặng Văn Tuấn [33]. “Nghiên cứu xác định hệ thống cây trồng thích hợp ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa” (2017), Luận án tiến sĩ của Lê Hoài Thanh.
Mới đây (năm 2022), Hà Huy Trung và Nguyễn 8 Văn Tuấn đã có nghiên cứu Tổ chức lãnh thổ kinh tế huyện Thạch Thành [31], trong đó đã phân tích một số hình thức TCLTNN. Những công trình trên đây là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi đúc kết cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài, lựa chọn mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và định hướng cho việc triển khai nghiên cứu NLTS Thạch Thành.Cơ sở lý luận về phát triển nông, lâm, thủy sản 1.Một số khái niệm Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội và ra đời rất sớm. Đây là ngành sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. NN bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản [14].
Phát triển là quá trình vận động liên tục từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Phát triển NLTS là quá trình làm cho NN tăng lên về qui mô, thay đổi về cơ cấu, nâng cao trình độ sản xuất, chất lượng nông sản và đóng góp vào phát triển KTXH. Phát triển NN làsự tăng lên về qui mô, sự thay đổi về chất theo hướng nâng cao NS, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh; là phát triển NN công nghệ cao, NN thông minh, NN sinh thái, NN tuần hoàn, hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa quy mô lớn, chất lượng cao; phát triển các chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ tiến bộ, an toàn [11]. Cơ cấu NLTS là các bộ phận hợp thành nền NN, bao gồm cơ cấu ngành nghề;cơ cấu cây trồng, vật nuôi; cơ cấu giống và cơ cấu mùa vụ.
Các cơ cấu trên được bố trí tùy theo điều kiện tự nhiên, kinh tế, kĩ thuật và yêu cầu xã hội [11]. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi tỷ trọng các phân ngành trong bản thân ngành nông nghiệp. Xu hướng chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước: lúc đầu tập trung vào việc tự túc lương thực, sau đó chuyển sang sản xuất cây thức ăn gia súc và 9 chăn nuôi, rồi các cây có dầu, đạm, rau và quả. Một xu hướng khác diễn ra đồng thời trong quá trình phát triển NLTS là chuyển dịch từ tiêu dùng nông sản tươi sang tiêu dùng nông sản đã qua chế biến [19].
Tái cơ cấu NLTS là quá trình tập trung triển khai nhiều giải pháp chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tăng giá trị trên đơn vị DT canh tác, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, góp phần thúc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn [19].Vai trò của nông, lâm, thủy sản trong nền kinh tế Ngành NLTS cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội. NLTS là những ngành sản xuất vật chất cơ bản, là cơ sở cho phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ngay cả ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng của NN trong GDP không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và tăng lên không ngừng để đảm bảo cung cấp cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm - yếu tố đầu tiên, yếu tố sống còn có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và là động lực phát triển đất nước. NLTS cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và đô thị.
NLTS của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ nguồn lao động và cung cấp lao động cho phát triển các ngành phi nông nghiệp như công nghiệp, dịch vụ và cho khu vực đô thị.NLTS cung cấp nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành CN chế biến nông sản.Trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, NLTS là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển các ngành phi nông nghiệp trong đó có CN, bởi vì NN là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động,về sản phẩm quốc dân và địa bàn hoạt động. Nguồn vốn tích lũy được từ hoạt động NLTS có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi NN, thuế NN, thuế sử dụng đất NN, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… NTLS là thị trường tiêu thụ của CN và DV. NLTS là thị trường tiêu thụ lớn của CN và dịch vụ. Ở hầu hết các nước đang phát triển, tư liệu tiêu dùng 10 và tư liệu sản xuất do công nghiệp sản xuất ra được NN và nông dân tiêu thụ.
Sự thay đổi về cầu trong khu vực NN, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi NN.Phát triển mạnh mẽ NLTS, nâng cao thu nhập dân cư NN, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho nhu cầu về sản phẩm CN tăng, thúc đẩy quá trình CNH phát triển. Vì thế hầu hết các quốc gia đều tìm cách từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của NN và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới. NLTS cung cấp hàng xuất khẩu. NLTS là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.
Các loại sản phẩm của NLTS dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa CN. Vì thế, ở các nước đang phát triển trình độ phát triển công nghiệp chưa cao thì nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại sản phẩm của NLTS.Một số quốc gia đã thành công trong đa dạng hóa sản xuất và xuất khẩu nhiều loại NLTS, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước. NLTS có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường. NLTS và nông thôn đều gắn chặt với việc sử dụng đất đai, mặt nước, thời tiết, khí hậu, nguồn nước.
nghĩa là gắn chặt với môi trường tự nhiên. Vì vậy NLTS là cơ sở cho sự phát triển bền vững.Tại một số quốc gia, NLTS sử dụng nhiều hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật. làm ô nhiễm đất và nguồn nước.