Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển nhân lực Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thanh Dung (2017) với đề tài “Một số giải pháp phát triển nhân lực thúc đẩy phát triển Kinh tế xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020” cho thấy rằng, phát triển nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng. Về chất, phát triển nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho nhân lực phát triển; về lượng là gia tăng số lượng nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó dân số là nhân tố cơ bản.
Bên cạnh đó, nghiên cứu phân tích tiêu chí đánh giá nhân lực và phát triển nhân lực dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ cách mạng kĩ thuật. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích các tiêu chí như trình độ ngoại ngữ, tin học; kỹ năng mềm,… trong phát triển nhân lực. Các tác giả Jim Stewart và Graham Beave (2004) với nghiên cứu “Phát triển nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ - nghiên cứu và thực tiễn”, nghiên cứu của các tác giả đã tìm hiểu về đặc điểm của các tổ chức quy mô nhỏ và những gợi ý trong việc thiết kế và thực hiện nghiên cứu về phát triển nhân lực. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về các cách tiếp cận để phát triển nhân lực trong những tổ chức qui mô nhỏ, các tác giả đã đề cập đến các phương pháp phát triển nhân lực mà các tổ chức qui mô nhỏ thường áp dụng và thực hành.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng mới chỉ tập trung khảo cứu vấn đề phát triển nhân lực dưới góc độ thực tiễn ở một số công ty nhỏ với những giới hạn nghiên cứu hẹp và đề xuất một số giải pháp phát triển lực lượng này một cách cụ thể. Vì vậy, những vấn đề chung về lý luận phát triển nhân lực chưa được các tác giả đề cập một cách sâu sắc. Tác giả Nguyễn Duy Hùng và Vũ Văn Phúc (2012) với đề tài “Phát 6 triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và những quốc gia đã đạt được nhiều thành công nhanh chóng trong phát triển kinh tế những thập kỷ gần đây như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,. Từ đó, tác giả tập trung phân tích thực trạng, làm rõ những bất cập trong phát triển nguồn nhân lực của nước ta những năm qua.
Đồng thời các tác giả đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong thời gian tới. Tác giả Nguyễn Ngọc Tú (2012) trong “Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế trên các nội dung như cơ cấu, vai trò, sự cần thiết khách quan, các nhân tố ảnh hưởng đến nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh nghiệm của một số nước châu Á (Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore) về xây dựng và phát triển nhân lực chất lượng cao. Đánh giá thực trạng nhân lực chất lượng cao của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011 và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát triển nguồn lực này đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả Trần Thị Thái Hà và Trần Văn Hùng trong nghiên cứu: “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế” (2013) đã bàn về nhu cầu nhân lực có trình độ đáp ứng quá trình hội nhập và phát triển kinh tế; công tác đào tạo nhân lực trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế. Nghiên cứu xác định: phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ được coi là một trong ba khâu đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Từ đó, các tác giả đề xuất ra những giải pháp và chính sách đào tạo nhân lực trong điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế; dự báo và quy hoạch phát triển nhân lực sao cho hợp lý, hiệu quả, tránh lãng phí nguồn nhân lực, vật lực, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 7 Không chỉ có các tác giả trong nước nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục - đào tạo mà các tác giả nước ngoài khẳng định giáo dục là giải pháp hàng đầu cho vấn đề phát triển nhân lực ở mỗi quốc gia.
Ví dụ như nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á” của Viện Kinh tế Thế giới (2003) đã giới thiệu các thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực Đông Á về phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu đã phân định rõ khái niệm phát triển nguồn nhân lực và mối quan hệ với công nghiệp hóa; khái quát lý thuyết và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo; từ đó làm sáng tỏ vai trò của phát triển nguồn nhân lực nói chung và giáo dục - đào tạo như yếu tố nền tảng của phát triển nhân lực với quá trình CNH và phát triển kinh tế - xã hội. Các chính sách thành công về giáo dục và đào tạo của các nước này là giải pháp quan trọng trong cung cấp nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đó cũng là bài học cho Việt Nam trong phát triển nguồn nhân lực thời gian qua, trong đó có tỉnh Lào Cai.
Nói về vấn đề phát triển nhân lực trên thế giới, cần phải kể đến nghiên cứu của tác giả Phạm Việt Dũng (2012) với đề tài “Quản lý và sử dụng nguồn nhân lực - kinh nghiệm của các nước phát triển” đã khẳng định: tạo ra NNL đông đảo có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao, có sức khoẻ tốt là một vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia. Nhưng vấn đề quan trọng không kém là quản lý và sử dụng NNL nhằm phát huy được các khả năng của nó. Các chính sách quản lý và sử dụng NNL ở các nước công nghiệp phát triển như là các yếu tố để kích thích sản xuất và tạo ra các động cơ mới của người lao động. Thông thường, các chính sách đó được lồng ghép vào các chính sách xã hội như: Chính sách việc làm, chính sách tiền lương, các chính sách có liên quan đến phúc lợi xã hội.
Tổng quan các công trình về phát triển nhân lực quản lý nhà nước Tác giả Nguyễn Tiến Linh (2016) với nghiên cứu “Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên, thành phố Hà Nội”. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân lực quản lý nhà nước là nguồn nhân lực quan trọng của bộ máy nhà nước chính từ Trung ương đến địa phương. Nguồn 8 nhân lực này quyết định việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính. Hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, nhân lực QLNN.
Sự thành công hay thất bại của một quốc gia, một ngành, một lĩnh vực hay một vùng lãnh thổ có một phần quan trọng phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ, nhân lực quản lý nhà nước trong bộ máy quản lý nhà nước. Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích vai trò cụ thể cán bộ quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể. Nghiên cứu “Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới” (Labour, employment and human resources in Viet Nam) của các tác giả Nolwen Henaff, Jean-Yves Martin (2001) đã cho thấy: Phát triển nhân lực là xu hướng và cũng là yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước. Nhóm tác giả đã phân tích thực tế công cuộc đổi mới của Việt Nam từ các khía cạnh chính sách giáo dục - đào tạo và chính sách việc làm, tổ chức lại nền kinh tế và cơ cấu lại xã hội, phát triển kinh tế và đổi mới doanh nghiệp với giải quyết việc làm, lao động và phát triển,.
Trong đó, nhấn mạnh đến vấn đề về giáo dục đại học và phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Bên cạnh đó, nhóm tác giả Nguyễn Văn Phúc và Mai Thu Hồng (2012) trong Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua dưới sự tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử, kinh tế và chính trị cũng như quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa. Các tác giả khẳng định, trên thực tế, tài nguyên nhân lực Việt Nam đã hình thành được những lợi thế nhất định, đã được khai thác và sử dụng và phát huy được vai trò tích cực của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, tài nguyên nhân lực nói chung và lực lượng lao động Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.
Việc khai thác, sử dụng tài nguyên này vẫn có những yếu kém đòi hỏi cần có những nỗ lực to lớn để khắc phục. Bao trùm tất cả những giải pháp, chính sách cụ thể về khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nhân lực trong giai đoạn tới là nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, nội dung và cách tiếp cận đối với khai thác, phát triển tài nguyên nhân lực quốc 9 gia. Điều quan trọng là những nhận thức này phải chuyển hóa thành các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch được cân nhắc kỹ lưỡng và toàn diện, có tính toán tới nhu cầu, các giải pháp và điều kiện cụ thể cũng như khả năng bảo đảm của nền kinh tế cũng như của toàn xã hội.